Posted in Tóm tắt sách

Sáng thế ký

Nguồn: VietBible

1. TỔNG QUAN VỀ SÁNG THẾ KÝ

1.1. Trước giả: Đa số công nhận Môi-se là tác giả.

1.2. Đặc tính của sách:

  • Tựa đề: Sáng thế ký được gọi là quyển sách của mọi khởi đầu.
  • Chủ đề chính: Tội lỗi con người và những bước đầu tiên của sự cứu chuộc thể hiện qua giao ước thánh với tuyển dân.
  • Chữ chìa khóa: Ban đầu.
  • Lời hứa cứu chuộc đầu tiên: Sáng 3:15.

2. BỐ CỤC SÁNG THẾ KÝ

2.1. Lịch sử sáng tạo:

  • Sáng tạo vũ trụ: Bảy ngày sáng tạo (Sáng 1:1-25).
  • Sáng tạo loài người: A-đam, Ê-va (1:26-31, 2-18-24).

2.2. Câu chuyện loài người tối cổ:

  • Câu chuyện tội lỗi: Thử thách, cám dỗ và sa ngã. Kẻ cám dỗ. Hình phạt. Lời hứa về Đấng giải cứu (3:1-24).
  • Câu chuyện Ca-in và A-bên (4:1-26).
  • Gia phổ và sự chết của các tổ phụ (5:1-32).
  • Nô-ê và trận đại hồng thủy (đoạn 6-8).
  • Giao ước cái mống và tội lỗi của Nô-ê (9:1-29).
  • Con cháu của Nô-ê (10:1-32).
  • Tháp Ba-bên và các ngôn ngữ (11:1-33).

2.3. Lịch sử tuyển dân:

  • Sự nghiệp của Áp-ra-ham: Sự kêu gọi thánh (12). Áp-ra-ham và Lót (13-14). Những khải tượng và lời hứa (15-17). Cầu thay cho Sô-đôm và Gô-mô-rơ (18-19). Y-sác ra đời (20-21). Thử nghiệm trên núi Mô-ri-a (22). Áp-ra-ham chết (25:8).
  • Sự nghiệp của Y-sác: Ra đời (21:3). Lập gia đình (24). Con cái (25-26/27).
  • Sự nghiệp của Gia-cốp: Chiếm quyền trưởng nam (27:1-29). Khải tượng chiếc thang (28:10-22). Lập nghiệp tại Cha-ran (29-31).
  • Sự nghiệp của Ê-sau.
  • Câu chuyện của Giô-sép: Tại nhà cha (37). Tại nhà Phô-ti-pha (39). Trong tù (40). Trên ngôi Ai Cập (41-50).

2.4. Năm vĩ nhân Sáng thế ký:

  • Hê-nóc – người đồng đi cùng Đức Chúa Trời (5:22-24).
  • Nô-ê – Người an ủi (5:29). Người được ơn (6:9). Người vâng lời (6:22). Người đóng tàu để cứu nhà mình (He 11:7). Thầy giảng đạo công bình (IIPhi 2:5).
  • Áp-ra-ham – Cha của mọi kẻ có đức tin (Ro 4:18).
  • Gia-cốp – Người được thay đổi nhờ chiến đấu cầu nguyện (Sáng 32:30).
  • Giô-sép – Người kính sợ Đức Chúa Trời mọi nơi mọi lúc.

3. NHỮNG CÂU HỎI CĂN BẢN VỀ SÁNG TẠO

3.1. Khi nào:

  • Ban đầu (bereshith): Lúc khởi đầu của vũ trụ. Khởi đầu tuyệt đối.
  • Vũ trụ đã có một khởi đầu: Trước đó nó chưa hiện hữu. Từ chỗ không không, nó đã được Đức Chúa Trời tạo thành từ thuở ban đầu (He 11:3) Nhưng có khởi đầu thì cũng có lúc kết thúc (IIPhi 3:10-11).
  • Kinh Thánh không xác định thời điểm: Ý niệm thời gian không thể chi phối Đức Chúa Trời.

3.2. Ai đã sáng tạo:

  • Đức Chúa Trời (Elohim): Elohim là danh từ số nhiều hàm ý Đức Chúa Trời Ba Ngôi.
  • Đức Chúa Trời hiện hữu trước lúc ban đầu: Ngài Tự hữu Hằng hữu.
  • Đức Chúa Trời Toàn Thiện Toàn Mỹ.

3.3. Sáng tạo điều gì:

  • Trời (heavens): Nhiều bầu trời của hàng tỉ thiên hà (galaxies).
  • Đất (earth): Trái đất thuộc Thái dương hệ (với 9 hành tinh) thuộc Ngân hà (một dải thiên hà).

3.4. Sáng tạo như thế nào:

  • Đất vô hình và trống không: Không có hình thể và không có gì ở đó.
  • Sự mờ tối ở trên mặt vực.
  • Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước: Đức Thánh Linh chịu trách nhiệm trong sự sáng tạo. Giăng 1:1-3 giải thích vai trò Ngôi Lời trong sáng tạo.

Posted in Tóm tắt sách

A-ghê

Nguồn: VietBible

I. NHẬP ĐỀ

I.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

  • Do từ bỏ Đức Chúa Trời, thờ hình tượng và từ chối ăn năn, dân Y-sơ-ra-ên phải nhận lấy hình phạt lưu đày.
  • Vương quốc Y-sơ-ra-ên phía bắc gồm 10 chi phái sụp đổ dưới tay đế quốc Asyri năm 722 TC. Họ bị lưu đày và chưa hề trở về xứ sở từ đó.
  • Vương quốc Giu-đa phía nam tồn tại được thêm 136 năm, sụp đổ dưới tay đế quốc Babylôn năm 586 TC, dân sự bị lưu đày.
  • Đế quốc Babylôn sụp đổ dưới tay Siru (Cyrus), vua Ba Tư vào năm 539 TC. Một thời gian ngắn sau khi cầm quyền, vua Siru ra chiếu chỉ cho phép dân Do Thái hồi hương.
  • Có 3 cuộc hồi hương quan trọng:
    • Lần 1: khoảng 538/537 TC (E-xơ-ra 1:1) dưới sự lãnh đạo của Xô-rô-ba-bên.
    • Lần 2: khoảng 458 TC (80 năm sau) (E-xơ-ra 7:7) dưới sự lãnh đạo của E-xơ-ra.
    • Lần 3: khoảng 445 TC (13 năm sau) (Nê-hê-mi 2:1) dưới sự lãnh đạo của Nê-hê-mi.
  • Hai lần hồi hương sau xảy ra dưới thời hoàng đế Artaxerxes Longimanus.
  • Chiếu chỉ cho phép hồi hương của vua Siru đã được ghi lại hai lần trong sách E-xơ-ra (1:2-4; 6:3-5), theo đó đền thờ Giê-ru-sa-lem sẽ được xây lại do ngân sách vua Siru đài thọ. Có lẽ Đa-ni-ên cũng có góp ý trong việc soạn thảo chiếu chỉ này (Đa-ni-ên ở Babylôn đến 535 TC).
  • Số người hồi hương lần đầu dưới sự lãnh đạo của Xô-rô-ba-bên gồm 42.360 người cùng với 7.337 tôi tớ của họ. Họ quay về Palestine và định cư tại Giê-ru-sa-lem và các thành phố phụ cận như Bết-lê-hem, Bê-tên, A-na-tốt, Ga-ba-ôn cùng một số nơi khác (E-xơ-ra 3:2).
  • Việc đầu tiên khi về đến Giê-ru-sa-lem là họ dựng bàn thờ của lễ thiêu và tái lập sự thờ phượng (tháng 7 năm đầu tiên).
  • Năm thứ nhì việc xây nền móng đền thờ được khởi công (E-xơ-ra 3:8).
  • Những trở ngại ập đến:
    • Người Sa-ma-ri ở phía bắc gây khó khăn sau khi bị từ chối đề nghị giúp đỡ (E-xơ-ra 4:1-5, IIVua 17:24-41).
    • Dân hồi hương mất đi lòng nhiệt thành với Chúa, bắt đầu nghĩ đến phúc lợi riêng mình (A-ghê 1:3-11).
  • Kết quả: công việc nhà Chúa bị trì trệ suốt 16 năm đến năm thứ hai đời trị vì hoàng đế Đa-ri-út. Đức Chúa Trời đã kêu gọi A-ghê vào công tác động viên tinh thần dân tộc.

I.2. TIÊN TRI A-GHÊ

  • A-ghê là tiên tri thời kỳ hậu lưu đày đã cùng một số dân Do Thái quay về Giê-ru-sa-lem trong lần hồi hương thứ nhất (537 TC).
  • Ông được kêu gọi nói tiên tri năm 529 TC (năm thứ nhì đời vua Đa-ri-út).
  • Thời gian nói tiên tri của ông kéo dài trong 4 tháng, với 4 sứ điệp với ngày tháng công bố:
    • Mồng 1 tháng 6 (khoảng tháng 8-9).
    • Ngày 21 tháng 7 (khoảng tháng 9-10).
    • Ngày 24 tháng 9 (khoảng tháng 11-12).
    • Ngày 24 tháng 9 (khoảng tháng 11-12).

I.3. SÁCH A-GHÊ

  • Mục đích Đức Chúa Trời cho phép dân Do Thái hồi hương là xây dựng lại đền thờ, tái lập sự thờ phượng và dốc lòng đi theo đường lối của Chúa. Việc xây dựng lại đền thờ là hành động đẹp lòng Chúa, còn việc bỏ dở công tác này là điều sai quấy trước mặt Ngài.
  • Việc để đền thờ hoang phế khi dân sự đã hồi hương được xem là nghiêm trọng hơn nhiều so với lúc họ còn ở chốn lưu đày. Vì họ không có lý do nào bào chữa cho việc mình đã quay về nhưng đền thờ Chúa vẫn hoang phế. Nền móng được xây dựng rồi trì trệ khiến các dân tộc xung quanh nghĩ rằng dân sự Chúa xem nhẹ Ngài.
  • Trong sứ điệp đầu tiên, Lời Chúa đã nhắc đến lý do này (A-ghê 1:1-11).
    • A-ghê quở trách họ đã bỏ những ràng buộc thuộc linh để chăm lo lợi riêng.
    • Khi một người xao lãng thực hiện những ràng buộc của Chúa trước, tất cả những gì người ấy làm đều sẽ không thạnh vượng.
    • A-ghê đã kết thúc sứ điệp này bằng sự kiện lịch sử được xem là kết quả của sứ điệp: dân sự từ người lãnh đạo hành chính đến người lãnh đạo tôn giáo và toàn dân hồi hương đã ăn năn, đứng dậy tiếp tục công việc xây dựng đền thờ (A-ghê 1:12-15).
  • Sứ điệp thứ nhì nhằm khuyến khích Xô-rô-ba-bên và Giê-hô-sua, hai nhà lãnh đạo cùng dân sự cứ kiên trì tiến hành công việc, với niềm tin mạnh mẽ rằng Đức Chúa Trời giúp họ hoàn thành công tác dường như quá sức với họ.
  • Sứ điệp thứ ba cảnh cáo dân sự rằng Đức Chúa Trời không phải chỉ muốn họ xây lại đền thờ hay dâng của lễ theo nghi thức, nhưng điều Ngài mong đợi hơn ấy là mối tương giao đúng đắn và mật thiết từ tấm lòng của họ đối với Ngài.
  • Sứ điệp thứ tư nói về một ngày trong tương lai khi Đức Chúa Trời sẽ phá hủy tất cả để thiết lập vương quốc vinh hiển của Ngài.

I.4. BỐ CỤC

  • Bố cục tổng quát theo ý nghĩa các sứ điệp:
    1. Xao lãng việc xây dựng đền thờ đem lại sự suy thoái (1:1-15).
    2. Sứ điệp khích lệ (2:1-9).
    3. Sự vâng lời quan trọng hơn của tế lễ (2:10-19).
    4. Vương quốc của Đức Chúa Trời được thiết lập.
  • Bố cục chi tiết:
    1. Sứ điệp đầu tiên – Kêu gọi xây dựng lại đền thờ (1:1-15).
      • Quở trách sự thờ ơ của dân sự (1:1-4).
      • Sự sửa phạt của Đức Chúa Trời (1:5-6).
      • Kêu gọi quay lại việc xây dựng (1:7-11).
      • Kết quả lời kêu gọi (1:12-15).
    2. Sứ điệp thứ nhì – Vinh quang của đền thờ tương lai (2:1-9).
      • Khích lệ dân sự trước những khó khăn (2:1-5).
      • Vinh quang của đền thờ (2:6-9).
    3. Sứ điệp thứ ba – Sự vâng lời đem đến phước hạnh (2:10-19).
      • Tính chất truyền nhiễm của tội lỗi (2:10-13).
      • Sự vâng lời có giới hạn chưa đủ (2:14).
      • Không vâng lời – căn bản của sự sửa phạt (2:15-17).
      • Vâng lời – căn bản của phước hạnh (2:18-19).
    4. Sứ điệp thứ tư – Vương quốc vinh hiển.
      • Dự ngôn về sự sụp đổ của các vương quốc dân ngoại (2:20-22).
      • Dự ngôn về sự phục hồi ngôi Đa-vít.

I.5. ỨNG DỤNG TỔNG QUÁT

  • Tác dụng mạnh mẽ của Lời Đức Chúa Trời trong mọi sứ điệp.
  • Tính chất truyền nhiễm của tội trì hoãn
  • Niềm hy vọng về Đấng Mêsia.

II. GIẢI THÍCH

KÊU GỌI XÂY DỰNG LẠI ĐỀN THỜ (A-ghê 1:1-15)

  1. Quở trách sự thờ ơ của dân sự (1:1-4)
    • Thời gian công bố sứ điệp: ngày 1 tháng 6 năm 520 TC (năm thứ hai đời trị vì của vua Đa-ri-út). Đa-ri-út được đề cập là Darius Hystapes hoàng đế Ba Tư, trị vì từ năm 521 TC đến 486 TC.
    • Những đối tượng nhận sứ điệp:
      • Xô-rô-ba-bên, người lãnh đạo dân sự.
      • Giê-hô-sua, người lãnh đạo tôn giáo.
      • Họ đại diện trực tiếp cho dân sự để tiếp thu Lời Chúa.
    • Lý do dẫn đến việc công bố sứ điệp:
      • Sự ích kỷ của dân sự: ích kỷ là một cản trở lớn cho việc lo tưởng đến công việc của Đức Chúa Trời và dẫn đến sự suy thoái tâm linh (Ê-sai 5:8, 12). Ích kỷ là sống cho mình, phục vụ chính mình, biệt lập khỏi lợi ích của người xung quanh cũng như của Đức Chúa Trời.
      • Sự sợ hãi của dân sự: dân sự có lý do để sợ (các dân tộc chung quanh gây rối) nhưng sự sợ hãi lớn nhất phát sinh từ lòng ích kỷ. Kẻ thù nghịch không cản trợ họ xây nhà riêng mà chỉ cản trở việc xây dựng đền thờ Chúa, họ sợ nhà cửa và của cải bị phá hủy nếu họ tiếp tục xây dựng đền thờ.
      • Phỏng đoán thì giờ: dân sự không từ chối tham gia công việc nhưng họ chần chờ, họ chỉ muốn tham gia khi hoàn cảnh thuận lợi, chờ đến “ngày mai tươi sáng hơn”. Satan vô cùng khôn ngoan khi gieo rắc tinh thần “để mai” vào lòng chúng ta. Đáng buồn là với nhiều người, điều họ gọi là ngày mai không bao giờ đến nữa.
  2. Sự sửa phạt của Đức Chúa Trời (1:5-7)
    • Hãy xem xét lại đường lối:
      • Đường lối bao gồm thái độ, cách cư xử và kết quả của nó.
      • “Hãy xem xét đường lối mình” là một mạng lệnh cần thiết cho mỗi Cơ đốc nhân, đặc biệt khi đứng trước khó khăn. Nếu đó là điều phát sinh từ những việc làm sai quấy thì chúng ta cần phải xưng tội và ăn năn. Nếu chúng ta xét thấy đường lối mình là ngay thẳng, những khó khăn đó là thử nghiệm để nâng cao đời sống tâm linh và cần cầu nguyện xin Chúa giúp sức để có thể vui trong nghịch cảnh.
      • Đứng trước một lựa chọn, phải xem xét điều đó có đẹp lòng Chúa, sáng danh Chúa, có ích lợi cho việc nhà Chúa.
      • Phải xem xét đường lối đã qua để ăn năn và cảm tạ. Phải nhờ Thánh Linh xem xét đường lối mình đang tiến tới để khỏi bị vấp ngã.
    • Tai họa (1:7)
      • Tai họa xảy đến khi dân sự không vâng lời, chống lại ý Chúa.
      • Tai họa xảy đến trên đất đai ruộng vườn, trên chính con người, trên của cải. Khi con người chỉ chú tâm đến lợi ích chính mình, cuối cùng sẽ mất tất cả, nếu không cẩn thận có thể mất cả linh hồn.
  3. Kêu gọi tái tục việc xây dựng (1:8-11)
    • Hình thức dù thường được xem là phần không quan trọng nhưng sự vâng phục và tình yêu cần phải có hình thức để bày tỏ. Đền thờ có thể không đáng giá về vật chất nhưng là bằng chứng bày tỏ sự yêu mến và vâng phục Chúa của dân sự.
    • Với Đức Chúa Trời, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ, sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực. Ngài không đòi hỏi dân sự vâng lời để làm khổ họ nhưng để mang họ ra khỏi cảnh khổ và được Ngài ban phước dồi dào.
    • Mỗi Cơ đốc nhân là đền thờ của Chúa ngự (ICo 3:16, 17). Chúng ta đang xây cất, chăm sóc đền thờ tâm linh của mình như thế nào? Đang tích cực xây dựng hay đang bỏ phế?

III. SỨ ĐIỆP THỨ NHÌ: VINH QUANG CỦA ĐỀN THỜ TƯƠNG LAI

Sau 16 năm dân sự bê trễ, lời kêu gọi được đưa ra ngày 1 tháng 6, đến ngày 24 tháng 6 dân sự đồng loạt hưởng ứng. Công việc thuận lợi trong khoảng 4 tuần lễ thì khó khăn lại ập đến làm suy giảm tinh thần mọi người. Sứ điệp thứ hai đã được công bố để khích lệ dân sự.

III.1. KHÍCH LỆ DÂN SỰ TRƯỚC NHỮNG KHÓ KHĂN (A-ghê 2:1-5)

  1. Khó khăn tinh thần:
    • Các dân chung quanh vẫn luôn tạo khó khăn bằng nhiều phương cách để gây lo lắng sợ hãi cho dân Chúa nhằm khiến họ chùn bước. Nhưng nghịch cảnh bên ngoài luôn có thể bị tan biến hay giảm thiểu bởi sự đoàn kết, hiệp một từ bên trong. Còn khó khăn bên trong nếu không giải quyết được có thể gây tan rã tập thể cách dễ dàng.
    • Khó khăn tinh thần ở đây (A-ghê 2:3, E-xơ-ra 3:12) là tiếng khóc xuất phát từ sự so sánh, thất vọng vì đền thờ không được xây cất nguy nga như họ nghĩ. Sự so sánh luôn có hai mặt tiêu cực (nhằm mục đích hơn thua) và tích cực (với tinh thần trình bày vấn đề để cầu xin sự thương xót của Chúa).
    • Câu hỏi trong phần cuối câu 3 là một lời khích lệ cho những ai đang góp phần trong công tác nhà Chúa. Vì trước mắt họ thì “như là hư không”, nhưng đối với Chúa thì không như vậy. Ngài nhìn vào tấm lòng của từng người và đó là điều có giá trị chứ không phải lớp vỏ bên ngoài.
    • Ngài nhìn thấy tấm lòng, và Ngài bước vào kêu gọi đích danh từng người hãy can đảm. Đây là lời đảm bảo hết sức riêng tư của Chúa dành cho từng cá nhân một.
  2. Khó khăn vật chất:
    • Tiền bạc và sự thiếu thốn luôn là nan đề ngay từ lúc bắt đầu. Nhưng Chúa phán: “Bạc là của ta, vàng là của ta” (2:8).
    • Đức tin của dân Chúa giúp mở từ cánh cửa này đến cánh cửa kia để bước vào kho tàng vô tận của Đức Chúa Trời. Không có một công trình nào bị bỏ dở khi dân sự hoàn toàn đặt niềm tin nơi Ngài và thuận phục ý chỉ của Ngài.
    • Đức tin dẫn đến kho tàng của Chúa, đồng thời trách nhiệm quản lý ràng buộc mỗi người phải hết sức trung tín đối với những gì được giao. Nếu không cẩn thận, chúng ta có thể bị cám dỗ dùng sai hoặc bất trung với tiền bạc Chúa đã ủy thác qua Hội thánh của Ngài.

III.2. VINH QUANG CỦA ĐỀN THỜ (2:6-9)

  1. Các nước bị rúng động:
    • Một trong những đặc điểm của nơi thờ phượng Chúa là vinh quang của Đức Chúa Trời bao phủ.
    • Ngoài sự vinh quang do sự hiện diện của Chúa, đền thờ còn được Chúa cho hưởng vinh quang từ nhiều hướng khác nữa. Việc xây cất lại đền thờ Giê-ru-sa-lem và tái lập sự thờ phượng không chỉ một số dân tộc chung quanh xứ Do Thái biết mà mọi dân mọi nước trong đế quốc Ba Tư đều biết (E-xơ-ra 4-6), tài lực được hoàng đế và triều đình đại diện cho toàn thế giới đương thời đóng góp (E-xơ-ra 6:8-10). Điều này làm chấn động các nước và đây là sự vinh quang của đền thờ.
  2. Vinh quang sau sẽ lớn hơn (2:9)
    • Theo lời hứa của Chúa, vinh quang của đền thờ thứ hai sẽ lớn hơn vinh quang trước. Vinh quang này không tỏa sáng bởi hình thức bên ngoài nhưng chiếu sáng từ tâm linh.
    • Đền thờ thứ nhất có vẻ ngoài đẹp đẽ nhưng các vua Giu-đa đã mang hình tượng vào khiến đền thờ bị ô uế dẫn đến chỗ bị phá hủy. Đền thờ thứ hai bề ngoài đơn sơ nhưng không bị ô uế, được Chúa ngự trị.
    • Đền thờ thứ nhất xây bởi sức người, đền thờ thứ hai được xây dựng bởi năng lực và sự thương xót của Chúa.
    • Sự bình an Đức Chúa Trời hứa ban cho đền thờ thứ hai vượt trội hơn đền thờ trước, vì đền thờ sau xây dựng giữa muôn vàn khó khăn.

IV. SỨ ĐIỆP THỨ BA: SỨ ĐIỆP VỀ SỰ ĐẢM BẢO

Sau khi quyết tâm xây dựng lại đền thờ, dân sự trải qua gần ba tháng lao động mệt nhọc với nhiều khó khăn nhưng vẫn chưa thấy một kết quả vật chất cụ thể nào nên họ tỏ ra thối chí nản lòng. Trước tình trạng này, Đức Chúa Trời lại sai A-ghê mang đến cho họ sứ điệp thứ ba – sứ điệp về sự bảo đảm của Chúa.

IV.1. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THÁNH KHIẾT (2:12)

  • Câu hỏi thứ nhất của A-ghê liên quan đến sự thánh khiết. Theo Lê-vi 6:27, sự thánh khiết có thể truyền đạt từ vật thánh đến vật trực tiếp tiếp xúc và không thể đi xa hơn được. Sự thánh khiết chỉ ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn đến vật tiếp xúc.
  • Chỉ có của lễ chuộc tội mới có tác dụng thánh hóa những ai chạm đến hay tiếp xúc với nó. Nói cách khác, chỉ có sự tha tội mới khiến con người nên thánh và Đấng thực hiện sự tha tội cùng thánh hóa là Chúa Jêsus (Giăng 1:29). Những ai muốn được chuộc tội và thánh hóa phải trực tiếp tiếp xúc với Chúa.
  • Như thịt thánh gói trong chéo áo làm cho chéo áo nên thánh, nhưng chéo áo không làm cho các vật khác nên thánh được. Cũng như vậy, dù Đức Chúa Trời đã thánh hóa đất của Ngài thì đất đó cũng không làm cho những hạt giống, cây trồng của dân sự trở nên thánh và mang đến kết quả tốt như họ mong đợi. Hạt giống và cây trồng của họ chỉ được kết quả tốt khi Đức Chúa Trời trực tiếp ban phước cho.

IV.2. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ Ô UẾ (2:13)

  • Câu hỏi thứ hai của A-ghê liên quan đến sự ô uế. Sự ô uế không những có phản ứng dây chuyền trên người hoặc trên đồ vật nào người bị ô uế đụng đến mà còn có ảnh hưởng đến đền tạm của Chúa. Sự ô uế không hẳn do việc người bị ô uế bước vào nơi thờ phượng, nhưng sự hiện diện của họ giữa dân tộc được gọi là thánh ở nơi có đền thánh của Chúa cũng bị xem là góp phần làm ô uế nhà của Đức Chúa Trời.
  • Tiên tri A-ghê muốn chỉ cho dân sự biết rằng họ đã bị xem là ô uế trước mặt Chúa vì:
    • Đã bỏ phế việc xây dựng lại đền thờ Chúa.
    • Đã làm dơ nhớp đời sống mình bởi sự xao nhãng bổn phận với Đức Chúa Trời.
    • Đã làm cho đời sống mất đi sự thanh sạch vì không vâng lời Chúa.
  • Chính sự ô uế này đã ảnh hưởng đến tất cả những gì họ chạm đến, những gì họ gieo trồng và ngay cả của lễ. Sự ô uế khiến phước hạnh của Chúa bị rút lại và tai họa đổ xuống (2:15-19).
  • Dầu vậy, khi dân Chúa quay lại với Ngài cách thật lòng, xây sửa lại đền thờ với mục đích tôn vinh Chúa thì phước hạnh sẽ tuôn đổ xuống ngay.
  • Bất cứ khi nào chúng ta có ý phàn nàn tại sao mình làm công việc nhiều mà phước hạnh ít, việc đầu tiên cần suy xét là động lực làm việc của chúng ta: đó là tinh thần trao đổi hay tinh thần yêu mến và biết ơn Chúa, chờ đợi nơi lòng nhân từ rộng rãi của Chúa (xem ví dụ về người làm công trong vườn nho ở Ma-thi-ơ 20:1-16).
  • Lời Chúa trong ICo 15:58 kêu gọi “Hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn”. Những ai làm việc cách dư dật thì chắc chắn sẽ nghe tiếng Chúa phán: “Từ ngày nầy (ngày Chúa thấy tinh thần đó bắt đầu xuất hiện nơi chúng ta), ta sẽ ban phước cho các ngươi” (A-ghê 2:19c).

V. SỨ ĐIỆP THỨ TƯ: VƯƠNG QUỐC VINH HIỂN (A-ghê 2:20-23)

Giống như phần lớn các sứ điệp tiên tri, A-ghê kết thúc bằng lời hứa liên quan đến sự trị vì của Đấng Mêsia vĩ đại thuộc dòng vua Đa-vít.

Lời hứa này cho đến bây giờ vẫn chưa được ứng nghiệm nhưng chắc chắn sẽ được ứng nghiệm trong chính Chúa Jêsus Christ, Đấng sẽ trở lại và cầm mọi quyền bính trong tay.

Để có thể nghênh đón Chúa hồi lai, mọi đền thờ tâm linh được gọi kêu xây dựng lại, sửa sang lại, làm cho sạch sẽ để thích ứng làm chỗ ngự của Ngài.

Posted in Tóm tắt sách

Các sách tiểu tiên tri

Nguồn sách: VietBible

PHẦN I – GIỚI THIỆU

Tiên tri là gì?

Từ này nghĩa là công bố. Tiên tri là người phát ngôn của Đức Chúa Trời, công bố sứ điệp của Ngài cho con người.

Nghĩa rộng và nghĩa hẹp

NGHĨA RỘNG:

  • Rao báo
  • Rao giảng Lời của Đức Chúa Trời
  • Hiểu thấu ý chỉ của Đức Chúa Trời
  • Khuyên bảo
  • Gây dựng
  • Thách thức kẻ gian ác

NGHĨA HẸP:

  • Tiên đoán
  • Hướng đến tương lai
  • Hiểu rõ kế hoạch của Đức Chúa Trời
  • Có tính tiên đoán – cho biết tương lai
  • Khích lệ người công bình

Mô tả về một tiểu tiên tri

  • “Người của Đức Chúa Trời” (IVua 12:22)
  • “Đầy tớ của Chúa” (IVua 14:18)
  • “Sứ giả của Chúa” (Ê-sai 42:19)
  • “Tiên tri của Chúa” (ISa 9:9)
  • “Người canh giữ của Chúa” (Exe 3:17)
  • “Người phát ngôn cho Đức Chúa Trời”

Phân biệt tiên tri giả và tiên tri thật

  • Tiên tri giả tiên đoán một điều gì nhưng không xảy ra dù chỉ một lần.
  • Họ có thể nói một số điều đúng nhưng mọi điều họ chia sẻ đều phải đúng, còn nếu những điều đó khiến xa cách Đức Chúa Trời thì đó là tiên tri giả.
  • Không một tiên tri thật nào của Chúa sử dụng các dụng cụ tiên đoán như quả cầu pha lê, lá trà, bộ bài tây…
  • Chúa Jesus không phải là trọng tâm của những lời tiên đoán của các tiên tri giả.
  • Một tiên tri là người nói ra Lời của Đức Chúa Trời và sứ điệp của người ấy thường được xác nhận bởi việc Đức Chúa Trời làm và các phép lạ của Ngài.
  • Cần phải lờ đi bất kỳ thiên sứ nào từ trời rao giảng một phúc âm khác hơn phúc âm mà Chúa Jesus đã dạy.

Có nhiều tiên tri trong Cựu Ước mà chúng ta không nghĩ họ là tiên tri

Một số người như Hê-nóc, Áp-ra-ham, Giô-sép, Môi-se, Sa-mu-ên.

Cựu Ước

  • Các sách trong Cựu Ước được chia thành các tiên tri lớn và các tiên tri nhỏ. “Lớn” vì độ dài của sách chứ không vì chúng quan trọng hơn các tiểu tiên tri.
  • Các sách đại tiên tri: Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên.
  • Ca thương là những bài ai ca của tiên tri Giê-rê-mi.
  • Đa-ni-ên là một sách có tính lịch sử nhiều hơn là một sách tiên tri. Đa-ni-ên đã nói tiên tri nhưng sách này không được xem là một sách tiên tri.
  • Có 12 sách tiểu tiên tri trong Cựu Ước, được xếp đặt trong Kinh Thánh không theo thứ tự thời gian.

PHẦN II – CÁC SÁCH TIỂU TIÊN TRI

(Đối với từng sách đều có phần nghiên cứu các câu các đoạn và giải nghĩa. Khuyến khích người đọc xem chi tiết trong VietBible).

1. ÁP-ĐIA

1.1. Tổng quát

  • Áp-đia là sách ngắn nhất trong các sách tiểu tiên tri.
  • Thời gian viết: khoảng 850-830 TC.
  • Một số người tin rằng Áp-đia sống cùng thời với Giô-ên. Có 11 Áp-đia khác trong Thánh Kinh, song không ai trong số đó có thể được nối kết với tiên tri Áp-đia.
  • Sách Áp-đia rất giống với chương 49 sách Giê-rê-mi.

1.2. Nghĩa của từ Áp-đia: “Người thờ phượng Đức Giê-hô-va”, hay “Đầy tớ của Chúa”.

1.3. Sách được viết cho người Giu-đa (vương quốc phía Nam) và viết về người Ê-đôm.

1.4. Ê-đôm

  • Ê-đôm ở phía đông nam của Giu-đa, phía nam của biển Chết (biển muối).
  • Người Ê-đôm là con cháu của Ê-sau – anh trai Gia-cốp (tức Y-sơ-ra-ên). Ê-sau định cư trong xứ Ê-đôm.
  • Dân số ký có chép về việc Môi-se muốn đưa dân Y-sơ-ra-ên đi ngang Ê-đôm khi rời Ai Cập nhưng dân Ê-đôm cấm họ đi qua bờ cõi của mình.

1.5. Lý do của lời tiên tri

  • Chúng ta không biết chính xác lý do Đức Chúa Trời đưa ra lời tiên tri nghịch cùng Ê-đôm, nhưng có một số bằng chứng cho thấy Ê-đôm không vui vẻ với Giu-đa.
  • Lời tiên tri hàm ý họ sẽ chịu khổ vì cách họ đối xử với người anh em Giu-đa (Y-sơ-ra-ên) của họ.

1.6. Nội dung chính

  • Rao báo sự diệt vong trên Ê-đôm.
  • Tiên tri về sự hoàn trả xứ sở cho Giu-đa.

1.7. Mục đích giáo lý

  • Công bố sự công bình của Đức Chúa Trời ban đất trở lại cho Giu-đa.
  • Khuyên dạy rằng sự kiêu ngạo đi trước sự sa ngã.

1.8. Mục đích Cơ đốc luận

  • Đấng Christ được nhìn thấy như thế nào trong sách Áp-đia?
  • Sách Áp-đia mô tả Đấng Mê-si vừa là Đấng giải cứu vừa là người sở hữu vương quốc.
  • Cũng vậy, Chúa Jesus là một người Do Thái, Ngài là một hậu tự của Giu-đa.

1.9. Nghiên cứu sách Áp-đia

2. GIÔ-ÊN

2.1. Thời gian

  • Người ta cho rằng Giô-ên sống cùng thời với Áp-đia. Cũng nhiều người tin rằng ông sống trong thời trị vì của vua Giô-ách (830-820 TC).
  • Thời điểm của Giô-ên xảy ra trong cùng thời gian với IIVua 2:1-24.

2.2. Tác giả

  • Giô-ên, con trai của Phê-tu-ên (Giô-ên 1:1).
  • Có 10 Giô-ên khác trong Thánh Kinh.
  • Nhiều người tin rằng ông là một thầy tế lễ.
  • Có thể ông sống ở Giê-ru-sa-lem.

2.3. Sách Giô-ên được viết cho Giê-ru-sa-lem và dân Giu-đa.

2.4. Lý do sách được viết

  • Lý do theo nghĩa đen: Họ vừa bị nạn cào cào, họ bắt đầu thấy sự tàn phá.
  • Lý do theo lịch sử: Giô-ên đang cảnh cáo về sự phán xét gần kề trên Giu-đa.

2.5. Mục đích giáo lý

  • Ngày của Chúa sẽ đến.
  • Sự hiện đến của Đức Thánh Linh trên toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời.

2.6. Mục đích Cơ đốc luận

  • Chúa là Đấng ban Đức Thánh Linh (2:28).
  • Đấng Mê-si là Đấng xét đoán các dân tộc (3:2, 12).
  • Đấng Christ là nơi ẩn náu của chúng ta và là đồn lũy cho dân sự Ngài (3:16).

2.7. Nghiên cứu sách Giô-ên

3. GIÔ-NA

3.1. Được viết bởi Giô-na vào khoảng năm 780-760 TC.

3.2. Địa điểm: câu chuyện nói về thành phố Ni-ni-ve, thủ đô của A-si-ri.

3.3. Giô-na có nghĩa là “Bồ câu”.

3.4. Mục đích lịch sử: Quở trách người Do Thái vì họ sống kiêu ngạo, không thấy được tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho dân ngoại.

3.5. Mục đích giáo lý

  • Tính phổ quát của sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
  • Nhu cầu vâng lời Đức Chúa Trời.
  • Bí quyết của sự phục hưng thật, “ăn năn”.
  • Sự cứu chuộc đến từ Đức Giê-hô-va.

3.6. Mục đích Cơ đốc luận: Giô-na là một hình bóng của Đấng Christ, bởi sự sống lại từ bụng cá và cứu nhiều người.

3.7. Nghiên cứu sách Giô-na

  • Vị tiên tri không vâng lời.
  • Vị tiên tri bị kỷ luật.
  • Vị tiên tri năng động, cùng chạy với Chúa.
  • Vị tiên tri thất vọng, chạy trước Chúa.
  • Chúng ta thường nghĩ rằng Chúa nên thương xót khi chúng ta sai trái với Ngài, nhưng lại cho rằng Ngài cần đoán phạt người khác khi họ sa ngã.

4. A-MỐT

4.1. Tên A-mốt có nghĩa là “Đức Giê-hô-va mang (gánh vác) hoặc chống đỡ” hoặc “Người mang gánh nặng”.

4.2. A-mốt ở Thê-cô-a, một thành phố nhỏ ở miền Nam (Giu-đa) cách Bê-tên 6 dặm và cách Giê-ru-sa-lem 11 dặm. Vùng này chuyên về chăn chiên.

A-mốt là người chăn chiên, không phải là tiên tri. Ông được Chúa kêu gọi rao giảng sứ điệp về vương quốc miền Bắc (Y-sơ-ra-ên).

4.3. Thời điểm được viết dưới thời vua Ô-xia, A-xa-ria, ứng với khoảng thời gian IIVua 14:23-15:7. Đó là thời điểm vô cùng thịnh vượng và đầy dẫy sự thờ hình tượng, dân sự đã quên Đức Chúa Trời.

4.4. Sách được viết để cảnh cáo rằng Đức Chúa Trời sắp giáng sự đoán phạt trên vương quốc phía Bắc.

4.5. Mục đích lịch sử: Kêu gọi các chi phái phản loạn phía Bắc ăn năn tội lỗi.

4.6. Mục đích giáo lý

  • Đức Chúa Trời ghét sự gian ác.
  • Sự thánh khiết của luật pháp Ngài – Luật pháp Chúa là thánh.
  • Sự công bình chính trực của Đức Chúa Trời.

4.7. Mục đích Cơ đốc luận: Giới thiệu Đấng Christ là người xây dựng lại đền tạm của Đa-vít (A-mốt 9:11).

4.8. Nghiên cứu sách A-mốt

  • Hai chương đầu công bố sự phán xét trên các dân tộc.
  • Đoạn 3-6 có ba bài giảng về tội lỗi của Y-sơ-ra-ên và sự đoán phạt hầu đến.
  • Đoạn 7 với loạt khải tượng truyền đạt sứ điệp (cào cào, lửa, dây chuẩn mực).
  • Đoạn 8-9 nêu tội lỗi và sự đoán phạt, các hình tượng sẽ ngã xuống.

5. Ô-SÊ

5.1. Sách được viết bởi Ô-sê, con trai Bê-ê-ri (Ô-sê 1:1).

5.2. Thời điểm: 760-710 TC, trong triều đại của Giê-rô-bô-am II, có lẽ Ô-sê nói tiên tri sau A-mốt.

5.3. Được viết cho mười chi phái phía Bắc (thường đề cập đến như là Ép-ra-im).

5.4. Ô-sê có nghĩa là “Sự cứu rỗi”.

5.5. Mục đích lịch sử: một bức tranh gây xúc động về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên bất trung.

5.6. Mục đích giáo lý

  • Sự băng hoại của con người.
  • Tình yêu thương bất tận của Đức Chúa Trời.

5.7. Mục đích Cơ đốc luận

  • Ngài là Đấng chữa lành cho người sa ngã (6:1).
  • Đấng Mê-si được giới thiệu là Con Đức Chúa Trời.
  • Ngài là Đấng yêu thương (11:4).
  • Ngài là Cứu Chúa duy nhất của dân Ngài (13:4).
  • Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc chúng ta khỏi sự chết (13:14).

5.8. Ý nghĩa

  • Ô-sê là tiên tri cho vương quốc phía Nam của Y-sơ-ra-ên. Ông hầu việc Đức Chúa Trời từ 753-715 TC. Dưới triều đại của Giê-rô-bô-am II, vương quốc phía Bắc thịnh vượng về mặt vật chất nhưng đã suy đồi về mặt thuộc linh.
  • Vai trò của Ô-sê là vạch rõ dân sự của vương quốc phía Bắc đã bất trung với Đức Chúa Trời, với “người chồng” và đấng chu cấp cho họ như thế nào, và họ đã tự kết ước với Ba-anh và các thần của Ca-na-an ra sao.
  • Ông cảnh cáo họ nếu không ăn năn tội và trở lại cùng Chúa thì sẽ không tránh được sự hủy diệt.
  • Ô-sê nói về những đặc tính của Đức Chúa Trời, lòng yêu thương lớn lao và sự công chính vô lượng của Ngài, và làm thế nào kinh nghiệm thực tiễn của họ về những điều này sẽ tác động trên cuộc đời họ để khiến họ trở lại với Đức Chúa Trời.

5.9. Nghiên cứu sách Ô-sê

6. MI-CHÊ

6.1. Tên Mi-chê nghĩa là “Người giống Đức Giê-hô-va”. Ông là người cùng thời với Ê-sai và Ô-sê, ông sống gần Gát, gần Phi-li-tin.

6.2. Thời điểm được viết

  • 730-700 TC (IIVua 18-20).
  • Ông nói về Sa-ma-ri (vương quốc phía Bắc) và Giê-ru-sa-lem (vương quốc phía Nam). Hầu hết là nói với Giu-đa.

6.3. Mục đích lịch sử

  • Cho thấy Đức Chúa Trời ghét những nghi thức nhạt nhẽo, trống rỗng và tội lỗi của dân sự.
  • Cho thấy Đức Chúa Trời ban sự tha thứ cho họ.

6.4. Mục đích giáo lý

  • Đức Chúa Trời ghét tôn giáo hình thức (Mi-chê 6:7).
  • Sự quan tâm của Ngài đối với sự công bình xã hội (6:8).
  • Ơn tha thứ của Ngài (7:18).
  • Sự thành tín của Ngài đối với giao ước (7:20).

6.5. Mục đích Cơ đốc luận

  • Ngài là Đấng phán xét các dân tộc (4:3).
  • Nơi sanh của Đấng Mê-si (5:1).

6.6. Nghiên cứu sách Mi-chê

7. NA-HUM

7.1. Tên Na-hum nghĩa la “An ủi”. Người ta không biết nhiều về Na-hum, ông xuất thân từ thành phố Ên-cốt.

7.2. Sách được viết cho Giu-đa liên hệ đến Ni-ni-ve.

7.3. Thời điểm viết

  • Trước khi bị lưu đày (IIVua 21:1-23:37).
  • 650-620 TC.
  • Các đời vua: Ma-na-se, Am-môn, Giô-si-a.

7.4. Mục đích lịch sử: để an ủi Giu-đa, bằng cách mô tả sự công bình của Đức Chúa Trời trong việc đoán phạt Ni-ni-ve.

7.5. Mục đích giáo lý

  • Sự công bình của Đức Chúa Trời.
  • Ngài là công bình và Ngài sẽ chiến thắng.

7.5. Mục đích Cơ đốc luận: Đấng Christ là Đấng phán xét và báo thù những kẻ thù nghịch Ngài.

7.6. Nghiên cứu sách Na-hum

  • Đoạn 1: Sự đoán phạt được công bố.
  • Đoạn 2: Mô tả sự đoán phạt.
  • Đoạn 3: Khốn thay cho thành của các ngươi – các ngươi là một thành đổ máu.

8. SÔ-PHÔ-NI

8.1. Sô-phô-ni có nghĩa là “Được che giấu bởi Đức Giê-hô-va”.

  • Dân sự bị “mù mờ” về mặt thuộc linh.
  • Một trong những quyển sách cuối cùng trước thời kỳ bị lưu đày.
  • Sô-phô-ni là một tiên tri thuộc dòng dõi hoàng tộc.

8.2. Thời điểm: 630-621 TC, các đời vua Ma-na-se, Am-môn, Giô-si-a.

8.3. Mục đích lịch sử

  • Cảnh cáo Giu-đa về sự diệt vong sắp xảy đến trên họ và các dân tộc khác.
  • Lời kêu gọi ăn năn.

8.4. Mục đích giáo lý

  • Đức Chúa Trời bày tỏ sự thánh khiết và công bình của Ngài bằng cách đoán phạt Giu-đa.
  • Đức Chúa Trời sẽ phục hồi.

8.5. Mục đích Cơ đốc luận

  • Cứu Chúa được giới thiệu là Đức Giê-hô-va ở trong Y-sơ-ra-ên (So 3:5).
  • Ngài là Vua của Y-sơ-ra-ên.

8.6. Nghiên cứu sách Sô-phô-ni

  • Đoạn 1: Công bố sự đoán phạt.
  • Đoạn 2: Kêu gọi ăn năn.
  • Đoạn 3: Sự sửa phạt, kế đó là Tin tức tốt lành.

9. HA-BA-CÚC

9.1. Ha-ba-cúc có nghĩa là “nắm lấy”. Ông cùng thời với Sô-phô-ni và Giê-rê-mi. Hình như ông xuất thân từ một gia đình thầy tế lễ.

9.2. Thời điểm 620-605 TC (IIVua 22-24). Người ta tin rằng sách được viết ra sau khi Giô-si-a tìm được “quyển sách Luật pháp”. Sự phục hưng đã đến và rồi Giu-đa trở lại tình trạng bội đạo.

9.3. Mục đích lịch sử: Cho thấy Đức Chúa Trời sửa phạt con cái Ngài cũng như sự công bình thánh khiết của Ngài thắng hơn kẻ thù nghịch.

9.4. Mục đích giáo lý

  • Sự thánh khiết và công bình của Đức Chúa Trời.
  • Dạy rằng sự công bình chỉ bởi đức tin.
  • Cho chúng ta thấy quyền tối thượng và sự quan phòng của Đức Chúa Trời.

9.5. Mục đích Cơ đốc luận

  • Đấng Mê-si là Đấng Thánh (Ha 1:12).
  • Cho thấy Đấng Mê-si là Đấng xưng công bình (2:4).
  • Ngài là Đấng sẽ làm cho đất đầy dẫy sự nhìn biết về vinh quang Chúa (2:14).

9.6. Chủ đề chính: Sự công bình và cách thức Đức Chúa Trời sửa phạt.

9.7. Nghiên cứu sách Ha-ba-cúc

  • Đoạn 1: Mở đầu bằng sự kêu van với Chúa.
  • Đoạn 2: Chúa đáp lời.
  • Đoạn 3: Ha-ba-cúc cầu nguyện.
  • Chúa cầm quyền kiểm soát thế giới và mọi diễn biến xảy ra. Chúng ta không thấy được tất cả những gì Đức Chúa Trời đang làm và sẽ làm, nhưng có thể tin chắc rằng Ngài là Đức Chúa Trời và sẽ làm những điều đúng.

10. A-GHÊ

10.1. A-ghê có nghĩa là “Lễ hội”. Đây là sách ngắn thứ nhì trong Cựu Ước.

10.2. Thời điểm 520 TC, sau khi bị lưu đày.

  • Xô-rô-ba-bên đang lãnh đạo tại Giu-đa sau khi kết thúc kỳ lưu đày ở Ba-by-lôn, vua Đa-ri-út I đang cai trị Ba Tư.
  • Trong thời kỳ của E-xơ-ra và Nê-hê-mi (Exo 1:1-6:22).

10.3. Mục đích lịch sử: Khuyên giục các dân sót xây dựng lại đền thờ.

10.4. Mục đích giáo lý

  • Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho dân Ngài khi họ đặt Ngài trước tiên.
  • Đừng mệt mỏi khi làm lành.

10.5. Mục đích Cơ đốc luận

  • Đức Giê-hô-va là sự vinh hiển của đền thờ (Ag 2:7-9).
  • Ngài là Đấng lật đổ vương quốc của thế gian (2:22).
  • Ngài là ấn tín cho Y-sơ-ra-ên (2:23).

10.6. Nghiên cứu sách A-ghê

  • Đoạn 1: Hãy xem xét đường lối các ngươi.
  • Đoạn 2: Ba tuần sau – A-ghê nói lời của Đức Chúa Trời.
  • Sứ điệp của A-ghê dạy dân sư lập lại những thứ tự ưu tiên đúng đắn, giúp họ bỏ đi những lo lắng và thôi thúc họ xây dựng lại đền thờ. Chúa đẹp lòng và hứa ban sức mạnh cùng dẫn dắt chúng ta khi chúng ta dành địa vị hàng đầu trong đời mình cho Ngài.

11. XA-CHA-RI

11.1. Xa-cha-ri có nghĩa là “Đức Giê-hô-va nhớ đến”.

11.2. Thời điểm

  • 518 TC – Đoạn 1-8.
  • 480 TC – Đoạn 9-14.
  • E-xơ-ra 5-6.
  • Hầu hết có liên quan tương lai Xô-rô-ba-bên, Đa-ri-út I.

11.3. Mục đích lịch sử: Khích lệ những người còn sống sót hiểu được Đức Chúa Trời đang hành động vì họ.

11.4. Mục đích giáo lý: Sự quan phòng của Đức Chúa Trời và địa vị cao trọng trước kia của Đấng Mê-si.

11.5. Mục đích Cơ đốc luận

  • Ngài là thiên sứ của Đức Giê-hô-va (Xa 3:1).
  • Ngài là Chồi công bình (3:8).
  • Ngài là Cứu Chúa đã bị đóng đinh (12:10).
  • Ngài là Vua sẽ đến (9:9).

11.6. Nghiên cứu sách Xa-cha-ri

12. MA-LA-CHI

12.1. Ma-la-chi nghĩa là”Sứ giả của Ta”.
12.2. Thời điểm 430-420 TC, 100 năm sau Xa-cha-ri.

12.3. Mục đích lịch sử: Quở trách Y-sơ-ra-ên vì sự suy đồi xã hội đạo đức và cảnh cáo kẻ sa ngã bội đạo.

12.4. Mục đích giáo lý: Sự chân thật và thánh khiết là những điều kiện tiên quyết để hầu việc Đức Chúa Trời.

12.5. Mục đích Cơ đốc luận

  • Ngài là sứ giả của giao ước (Mal 3:1).
  • Ngài là thợ luyện (3:2).
  • Ngài là mặt trời công bình (4:2).

12.6. Chủ đề chính: Sự quở trách Y-sơ-ra-ên và đòi hỏi sự công bình, thánh khiết.

12.7. Nghiên cứu sách Ma-la-chi

Posted in Tóm tắt sách

Sứ điệp Cựu Ước

Tác giả: Viện Thần học Việt Nam

Nguồn: có thể tìm đọc trong VietBible

CHƯƠNG 1: NAN ĐỀ CỦA CỰU ƯỚC

1.1. Những nan đề của Cựu Ước

  • Giá trị của Cựu Ước không được nhận biết, có thể do nhiều lý do:
    • Thế giới Cựu Ước và nếp suy tư cách biệt chúng ta hơn là Tân Ước
    • Nhiều đoạn của Cựu Ước được dịch khó hiểu
    • Cựu Ước quá dài (gấp ba Tân Ước)
    • Cựu Ước không có nguyên tắc quán nhất rõ ràng (để kết nối các sự kiện cách mạch lạc hợp lý)

1.2. Những sợi canh chỉ trong Cựu Ước

  • Cựu Ước gồm nhiều sợi canh chỉ không hề đan dệt lại với nhau. Chúng có sự hòa hợp nhưng không phải là thống nhất, cùng hướng về một tiêu điểm là Chúa Jesus
  • Vì tính cách đa tạp và khác lạ của Cựu Ước nên ta không lấy làm lạ nếu chỉ dùng riêng một phương pháp không đủ mở cho ta tất cả kho tàng chôn giấu trong Cựu Ước

CHƯƠNG 2: MẶC KHẢI BAN SƠ

  • Chúng ta không thể biết được Sáng 1:1-2:3 đã được mặc khải như thế nào. Không có bằng chứng nào cho thấy mặc khải đó có trong ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Hê-bơ-rơ và ít có học giả bảo thủ nào chịu gán cho nó một nhân vật nào kém hơn Môi-se
  • Có nhiều bằng chứng về ngôn ngữ học cũng như ở phương diện khác cho ta nghĩ rằng Áp-ram đã mang chúng theo, không nhất thiết bằng văn tự khi đi từ Ha-ran vào Ca-na-an
  • Tác giả không quả quyết rằng chỉ có tổ phụ của Áp-ram mới lưu giữ những câu chuyện đó cách thuần vẹn mà chỉ tin rằng Đức Thánh Linh đã kiểm soát sự ghi chép để tránh những sai lầm

2.1. Vị trí của nó trong Cựu Ước

  • Sáng 1:1-11-32 hiệp thành một bộ phận thống nhất và thiết yếu trong câu chuyện cứu chuộc
  • Các gia phả có công dụng nhắc nhở cho dân Y-sơ-ra-ên cũng như Hội thánh sau này rằng thế giới không tự nó tồn tại, và Đức Chúa Trời vẫn để tâm chăm sóc tất cả
  • Ngoài gia phả, các câu chuyện còn lại chứa đựng những chân lý làm nền tảng và là một phần thiết yếu để giải thích những việc xảy ra sau đó

2.2. Nước lụt và tháp Ba-bên

  • Ê-sai bắt đầu những lời tiên tri bằng sự kiện Ba-by-lôn sụp đổ, dường như không liên quan đến thời đại của ông. Chúng ta sẽ nắm được ý nghĩa của lời tiên tri khi hiểu rằng đối với Ê-sai, Ba-by-lôn không phải chỉ là một thành phố mà là hình ảnh xã hội loài người được nhân cách hóa, kiêu căng nổi lên chống lại Đức Chúa Trời. Ê-sai có thể nhân cách hóa được là nhờ câu chuyện tháp Ba-bên trong Sáng 11:1-32 đã vẽ nên đặc tính tiêu biểu cho thành đó
  • Câu chuyện nước lụt cũng lưu lại đằng sau Cựu Ước một ký ức kinh khiếp. Ngoài Sáng, câu chuyện còn được nhắc lại trong Thi thiên 29:10, Ê-sai 54:9, Thi thiên 89:37

2.3. Sự sa ngã của loài người

  • Lời xưng tội nếu là một câu nói thành thật thì có lẽ là câu mà con người khó nói và ít nói hơn hết. Sự thất bại hoàn toàn của Y-sơ-ra-ên vẫn không đủ để dạy con người bài học này
  • Dù các vị thánh trong Cựu Ước không thể đạt được ý thức về tội lỗi như trong Tân Ước, họ rất sẵn sàng nhìn nhận tội lỗi mình, có thể họ đã nhận thức được họ thuộc về một dòng giống sa ngã
  • Chết không phải là điều tự nhiên hay cánh cửa đi tới điều tốt hơn, nhưng là hậu quả không thể tránh được của những điều con người đã làm

2.4. Cuộc sáng tạo và vườn địa đàng

  • Đức Giê-hô-va tự mặc khải chính Ngài kiểm soát mọi sự và không bị bất cứ một cái gì chi phối. Sự thờ hình tượng bị bắt gặp nhiều lần trong Cựu Ước không phải là bỏ Đức Chúa Trời để thờ các thần khác mà là đem Chúa vào trong các tạo vật của Ngài và đặt Ngài dưới sự kiểm soát của chúng

CHƯƠNG 3: CÁC THÁNH TỔ

3.1. Bối cảnh của Sáng thế ký 12-50

  • Con người phải sống trong xã hội và là thành phần của xã hội ấy, nhưng trước hết họ phải sống trong tương giao với Đức Chúa Trời. Do đó, trước khi gặp xã hội Y-sơ-ra-ên do Đức Chúa Trời thiết lập, chúng ta thấy hình ảnh các vị thánh tổ trong tương giao với Ngài
  • Các thánh tổ là những mẫu người đức tin

3.2. Áp-ra-ham

  • Chúng ta biết rất ít về con đường dẫn ông đến đức tin. Điều quan trọng không phải là chúng ta đến với đức tin bằng cách nào mà là chúng ta bước đi trong đức tin như thế nào
  • Đức tin của Áp-ra-ham biểu lộ trong ba chiều hướng đặc biệt:
    • Vâng phục
    • Tin cậy nơi quyền năng giữ gìn của Đức Chúa Trời
    • Sẵn lòng tin vào mục đích tương lai của Đức Chúa Trời
  • Vẫn tồn tại những nhược điểm trong đức tin Áp-ra-ham (nghi ngờ sự bảo vệ của Chúa tại Ai Cập, nghi ngờ phần nào lời hứa của Chúa nên đến với A-ga)

3.3. Y-sác

  • Hai đặc điểm trong đời sống Y-sác:
    • Sẵn sàng làm nạn nhân hy sinh
    • Sẵn sàng tiếp nối lối sống của cha mình
  • Thất bại lớn nhất của ông là tin rằng mình đã biết trọn vẹn ý chí của Đức Chúa Trời, dù đã biết lời tiên tri cho Rê-bê-ca, ông vẫn tin rằng Ê-sau mới là đứa con được hưởng phước lành

3.4. Gia-cốp

  • Có thể chúng ta không thích Gia-cốp nhưng ông vẫn được xem là con người đức tin. Ông biết và xem trọng những lời hứa của Chúa, nhưng ông dùng những cách bất kể tốt xấu để đạt được những điều ông tin là của mình chứ không đợi Chúa thực hiện lời hứa
  • Phải đợi đến lúc vật lộn với Đức Chúa Trời, ông mới học biết rằng Ngài có những phương cách để hoàn thành lời hứa

3.5. Giô-sép

  • Giô-sép là lời chứng cho Rô-ma 8:28 “Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời”
  • Một trong những khía cạnh quan trọng của đức tin là sẵn sàng nhìn thấy ý chí của Đức Chúa Trời trong những cơ hội Ngài đưa đến cho chúng ta
  • Giô-sép đợi đến thời điểm Chúa chọn cho sự sum họp của gia đình
  • Ông có đủ phú quý, vinh hoa, quyền thế nhưng ông không thay lòng đổi dạ. Ông không xem Ai Cập là quê hương nhưng nhận biết mình là công cụ để Đức Chúa Trời thực hiện kế hoạch của Ngài

CHƯƠNG 4: CHUYỆN TÍCH CỨU CHUỘC

4.1. Đức Chúa Trời hành động

  • Nguyên tắc thứ nhất: sự chọn lọc. Đức Thánh Linh đã chọn lọc những chi tiết bày tỏ rõ hơn hết việc Đức Chúa Trời làm để đem sự cứu rỗi đến cho con người và cách con người phản ứng đối với sự cứu rỗi đó
  • Nguyên tắc thứ hai: Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính mình Ngài trong lời nói và hành động qua những người được Ngài lựa chọn và sửa soạn
  • Nguyên tắc thứ ba: Đức Chúa Trời không chỉ là Đấng Sáng tạo mà còn là Đấng duy trì thế giới

4.2. Hệ thống biểu tượng của lịch sử cứu chuộc

  • Khi Đức Chúa Trời hành động, Ngài không phụ thuộc vào hoàn cảnh hay con người, vì Ngài có thể dấy lên một Môi-se vào một thời khác. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện có thể dùng làm biểu tượng vì bản chất câu chuyện không liên hệ đến những biến cố thời gian và không gian
  • Điều này không áp dụng cho sự thành nghiệm của biểu tượng. Khảo cổ học đã chứng tỏ, những tính toán định ngày tháng quan trọng nào đó trong lịch sử loài người là vô giá trị; nhưng khi đến sự kiện căn bản của sự cứu chuộc, chúng ta được phép đặt nó một cách chính xác vào khoảng nào trong lịch sử nhân loại
  • Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trên quy luật cũng như sự vô quy luật

4.3. Sự thất bại của Y-sơ-ra-ên

  • Xuất Ai Cập mở màn cho một giai đoạn mới được xác nhận bằng giao ước ở Si-nai nhưng đại khối quần chúng vẫn tiếp tục sống trong quá khứ, mơ về Ai Cập
  • Cùng với việc sống trong quá khứ, người ta cũng không sẵn sàng sống cho hiện tại mới mẻ. Chúng ta cũng thường hay hành động như họ

4.4. Ơn Giao ước

  • Đức Chúa Trời tuyên bố hành động ân huệ của Ngài rồi đề nghị dành cho một địa vị đặc quyền, một đề nghị vượt xa mọi lời hứa với các tổ phụ. Trong giao ước không có điều khoản nào vì họ phải lấy đức tin đơn thuần mà nhận đặc tính ân huệ của Đấng lập giao ước
  • Trong Xuất 19:5, bên cạnh lời xác nhận Ngài đã chọn Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp, Đức Chúa Trời cũng tuyên bố rằng cả trái đất thuộc về Ngài

CHƯƠNG 5: LUẬT PHÁP

5.1. Luật pháp căn bản

  • Mười điều răn chiếm vị trí đặc biệt trong việc bày tỏ ý chỉ Đức Chúa Trời
  • Nếu chúng ta hiểu đúng Mười điều răn (Xuất 20) và Sách giao ước (Xuất 24:7), trong đó chứa đựng tất cả những gì Ngài đòi hỏi nơi dân Ngài. Mười điều răn chứa đựng những nguyên tắc căn bản mà tâm tính cần có nếu muốn tương giao với Chúa, phần còn lại bình luận và chỉ dẫn cách để tạo nên tâm tính đó

5.2. Các bộ luật khác

  • Khi so sánh bộ sách Giao Ước, Luật Thánh khiết và Luật Phục truyền:
    • Sách Giao ước phần lớn là luật thuần túy
    • Luật Thánh khiết không còn là luật pháp thuần túy mà là một phản ảnh sự thánh khiết của Đức Chúa Trời trong dân Ngài
    • Luật Phục truyền gần giống như bài giảng thực tế cho những ai đã có kinh nghiệm sâu xa với Chúa
  • Luật Dân vụ và Luật Thiên vụ:
    • Luật Dân vụ đưa ra một hành động do một động lực hay trong hoàn cảnh nào đó rồi đưa ra trừng phạt tương ứng
    • Luật Thiên vụ dành cho dân Y-sơ-ra-ên và bắt nguồn từ mối quan hệ giữa họ với Chúa, có những đòi hỏi mang tính tuyệt đối
  • Luật Nghi lễ: được ban bố sau khi đã thiết lập giao ước, dùng để duy trì giao ước sau khi giao ước được thiết lập. Những ai đã từng kinh nghiệm hiện thực đằng sau các nghi thức thể chế sẽ thấy mình đang sống như Chúa đã sống. Họ sẽ giữ nguyên tắc căn bản của luật pháp, không phải vì họ cảm thấy bị bắt buộc mà là vì sự sống của Chúa Cơ đốc từ trong họ phát huy ra

CHƯƠNG 6: CÁC SÁCH TIÊN TRI TRƯỚC

(Giô-suê, Các quan xét, Sa-mu-ên, Các Vua)

6.1. Sự suy vi của Y-sơ-ra-ên

  • Sau khi Giô-suê và những người đồng thời qua đời, lịch sử dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu xuống dốc cho đến khi không thể cứu chữa và họ phải bị lưu đày
  • Đức Chúa Trời đã dấy lên những nhân vật để chặn đứng sự ruỗng nát, nhưng họ rất ít khi nâng được mức sống và trình độ tôn giáo của toàn dân lên
  • Đến thời kỳ, Đức Chúa Trời cũng phải loại bỏ những gì đã tỏ ra không thể sửa chữa được nữa

6.2. Giô-suê

  • Sách Giô-suê thường bị hiểu lầm là lịch sử cuộc chinh phục xứ Ca-na-an. Thật ra, mười hai chương đầu cốt ghi lại những công việc quyền năng của Đức Chúa Trời trong thời kỳ chinh phục
  • Có hai câu chuyện về tội lỗi:
    • Một tội của A-can khiến toàn dân bị rủa sả vì cả trại đều dính líu đến vật cấm
    • Tội thứ hai là thỏa hiệp với dân Ga-ba-ôn, đây là tội lỗi bậc nhất của dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ Các quan xét
  • Những phần đất mà dân sự chưa chiếm được là một lời chứng thường trực lên án tội lỗi và sự thiếu kém đức tin của họ

6.3. Các quan xét

  • Các quan xét mở đầu bằng một bảng liệt kê những thất bại trong thời kỳ chinh phục, cho thấy thái độ thật sự của dân sự
  • Đối với họ, Đức Giê-hô-va là một vị thần trong nhiều vị thần. Họ làm điều mà chúng ta vẫn thường làm: chúng ta cảm thấy bị lôi kéo thỏa hiệp và cúi đầu trước các thần tượng của thế gian, của cải, quyền lực, dư luận và danh vọng

6.4. Sa-mu-ên

  • Nhà trước thuật sách Sa-mu-ên chia quyển sách thành nhiều phần: về Sa-mu-ên, chế độ quân chủ, về Sau-lơ, về Đa-vít làm vua, về con người Đa-vít và một phụ lục
  • Trong sách về Sa-mu-ên, chúng ta thấy tôn giáo bại hoại đã ăn sâu vào trung tâm Y-sơ-ra-ên, là những hành vi đồi bại về nhục dục
  • Dân chúng đòi cho được một vua và Sau-lơ có tất cả bề ngoài cần thiết để làm một vị vua lý tưởng, nhưng Kinh Thánh coi thường ông, chỉ dành hai chương để nói về cuộc trị vì của ông
  • Câu chuyện Đa-vít với hình ảnh vị vua thành công cũng như hình ảnh bi đát về con người nơi ông cho ta bài học rằng không có người nào đủ sức đại diện Đức Chúa Trời như cách dân Y-sơ-ra-ên kỳ vọng

6.5. Các Vua

  • Sách Các Vua chạy suốt từ triều đình hào nhoáng lộng lẫy của Sa-lô-môn đến lúc phóng thích vua Giê-hô-gia-kin khỏi ngục tù Ba-by-lôn
  • Nhân vật chính trong Các Vua không phải là những vị vua trung thành, nhưng là những phát ngôn viên của Đức Chúa Trời, các vị tiên tri
  • Không có cuộc cải cách thật sự nào mà chỉ là những cố gắng ngắn ngủi đắp đê ngăn chặn điều ác, nhưng một khi đê vỡ, nó còn làm cho sự hủy diệt cuối cùng đến chắc chắn hơn

CHƯƠNG 7: CÁC SÁCH TIÊN TRI SAU

(Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Sách mười hai gồm lời tiên tri của mười hai vị trong một cuốn duy nhất)

7.1. Ngày của Chúa

  • Giô-ên là vị tiên tri duy nhất mà chúng ta không thể định niên đại một cách chắc chắn. Sứ điệp của ông có tính cách phi thời gian, ông nói về Ngày của Chúa, từ này trong Cựu Ước tương đương với từ Ngày Chúa tái lâm trong Tân Ước

7.2. Tình yêu của Đức Chúa Trời

  • Lời tiên tri của Giô-na về thành Ni-ni-ve có thể đặt vào khoảng chưa đầy 40 năm sau khi Ê-li-sê qua đời và A-mốt nói tiên tri
  • Trong sách này, chúng ta thấy Ngài chẳng những tìm kiếm sự ăn năn của thành phố tội ác Ni-ni-ve mà còn tỏ ra thương xót “mười hai vạn người không phân biệt tay hữu và tay tả” (có lẽ là trẻ em) “với một số thú vật rất nhiều”

7.3. Các vị tiên tri của thế ký thứ tám

  • Các lời tiên tri của A-mốt, Ô-sê, Ê-sai 1:1-39:8 và Mi-chê thường được gộp dưới đại đề chung là các vị tiên tri của thế kỷ thứ tám (riêng về Ê-sai 40:1-66:24 có sứ điệp nổi bật nên cần được xét dưới một khung cảnh khác)
  • Sứ điệp của các vị tiên tri này, bất luận họ nói với miền bắc Y-sơ-ra-ên hay miền nam Giu-đa, đều có tính cách biện minh cho sự phán xét hầu đến
  • Đối với A-mốt, đức tính căn bản của Đức Chúa Trời là công bình. Sự công bình này tỏ trong sự trừng phạt những kẻ phạm tội đi ngược lại lương tâm mình, dù họ không là thành phần của dân giao ước
  • Ô-sê quan tâm nhiều hơn đến những hành vi của dân sự dưới ánh sáng của tình yêu Đức Chúa Trời. Ông nhìn thấy cái giá Đức Chúa Trời phải chịu khi lên án dân Ngài, đồng thời ông cũng thấy rằng việc một dân tộc không yêu mến Chúa nhưng lại làm dân Ngài với mọi đặc quyền là một mâu thuẫn
  • Ê-sai đã kết hợp sự yêu thương và công bình với nhau trong thị tượng về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Ông nhận biết rằng dòng giống thể xác không thể làm nên dân Chúa, muốn mang tước vị ấy cách xứng đáng thì phải có hạt giống thánh bên trong
    • Ê-sai thấy trước cả hai dân tộc và vua quan đều sẽ bị đốn ngã, và từ trong số dân sót sẽ xuất hiện một vị vua mang mọi đặc tính mà Đa-vít và những người kế vị ông không thể nào sánh được
    • Sự khác biệt giữa Ê-sai và Ê-li: đối với Ê-li, nhân dân thất bại làm cho chương trình của Đức Chúa Trời thất bại (IVua 19:14), còn đối với Ê-sai, sự thất bại hiển nhiên của người Y-sơ-ra-ên đồng thời với ông đã khiến cho các mục đích của Đức Chúa Trời được thành tựu trọn vẹn
  • Mi-chê là một trong bốn vị tiên tri ít ảnh hưởng đến độc giả trung bình lúc ban đầu, nhưng là người duy nhất trong số đó được ghi lại bằng sứ điệp của ông đã đem lại một cuộc cải cách, tuy ngắn ngủi. Giọng văn của ông mạnh bạo và đã thúc đẩy vua Ê-xê-chia hành động

7.4. Thời kỳ Giô-si-a

  • Không thấy nói đến một vị tiên tri nào trong khoảng thời gian 50 năm Ma-na-se trị vì. Lời truyền khẩu rằng Ê-sai bị Ma-na-se giết có thể là đúng. Nhưng các vị tiên tri của thế kỷ thứ tám đã làm phận sự rất tốt đẹp. Chắc chắn ý muốn của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tồn tại. Nếu Ma-na-se không nghe lời họ, chắc ông cũng không nghe một vị tiên tri mới, bởi vậy không một ai được sai đến với ông
  • Sô-phô-ni là người tiên phong cho thời đại mới. Những lời mô tả trong Sô-phô-ni 1 nói rõ thời gian trước cuộc cải cách của Giô-si-a nên ta có thể tin rằng vị tiên tri là người đã thúc đẩy nhà vua trẻ ra tay cải cách
  • Na-hum giữ vị trí bổ túc cho Giô-na, khi Giô-na bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời trong sự nhẫn nhục tìm kiếm sự ăn năn và giải cứu cho thành Ni-ni-ve, Na-hum cho thấy hậu quả của sự khinh lờn tình yêu ấy
  • Ha-ba-cúc dường như đã ghi lại những lời đối thoại giữa Đức Chúa Trời và ông trải qua nhiều năm. Đóng góp lớn nhất của ông vào chân lý được mặc khải mỗi ngày một rộng lớn hơn, là câu “Người công chính sẽ sống nhờ lòng trung thành của mình” (Ha 2:4). Ông được mặc khải rằng giữa số phận bấp bênh của những người dân sót, cá nhân vẫn được an toàn nhờ một cuộc sống hết lòng tin cậy Đức Chúa Trời

7.5. Giê-rê-mi

  • Đức Chúa Trời đưa ra minh chứng qua Giê-rê-mi rằng bởi ân điển, con người có thể sống đời tin cậy dù mọi sự giúp đỡ và duy trì bên ngoài đều không còn
  • Trong năm năm đầu đời trị vì của Giê-hô-gia-kim, chúng ta thấy Giê-rê-mi chịu hết hoạn nạn này đến hoạn nạn khác. Ông kinh nghiệm phước lành và năng lực trong khi chứng minh rằng con người vẫn có thể bước đi theo đường lối của Đức Chúa Trời dù bị tước đoạt hết mọi sự hỗ trợ của loài người

7.6. Ê-xê-chi-ên

  • Giê-rê-mi nói tiên tri cho những kẻ sẽ đi đày, Ê-xê-chi-ên nói cho những kẻ đã ở đó. Công tác của ông là thuyết phục họ rằng họ ở trong nơi lưu đày là do hành động ân sủng của Đức Chúa Trời. Đó không phải hình phạt thảm khốc mà là phương cách Ngài cứu họ khỏi tai ương sắp đổ xuống Giê-ru-sa-lem
  • Giê-rê-mi làm sáng tỏ điểm con người không thể đi đến chỗ ăn năn, còn Ê-xê-chi-ên vạch ra thứ tự bội đạo, phán xét, phục hồi và ăn năn, nhưng bước cuối cùng chỉ hoàn toàn dựa vào hành động ân huệ của Chúa

7.7. Đầy tớ Đức Giê-hô-va

  • Ở đây xét riêng sứ điệp của các chương sau sách Ê-sai
  • Trong chương 40-48, chúng ta có hình ảnh của Đức Giê-hô-va sắp sửa thực hiện một cuộc xuất hành mới. Cuối phần này cho thấy Y-sơ-ra-ên được thoát khỏi ách đô hộ Ba-by-lôn nhưng không thoát khỏi ách tội lỗi. Chương 49-55 nói về Y-sơ-ra-ên có thể được giải thoát khỏi tội lỗi như thế nào. Như thế chúng ta được đưa đến với vị đầy tớ thật

7.8. Các vị tiên tri sau thời lưu đày

  • Sau khi lưu đày trở về, chức vụ tiên tri chóng bị phai mờ. Đức Chúa Trời không còn gì để mặc khải cho đến khi Đấng hoàn thành lời tiên tri phải đến. Lời tiên tri của ba vị A-ghê, Xa-cha-ri, Ma-la-chi bắc một nhịp cầu giữa những lời tiên tri và bài giảng
  • A-ghê đã dựa vào mặc khải của quá khứ để đem luận lý Đức Thánh Linh đã dạy mà áp dụng cho hoàn cảnh lúc bấy giờ
  • Sáu chương đầu của Xa-cha-ri cho thấy loại tiên tri khải huyền, đặc biệt liên kết với sách Đa-ni-ên và Khải thị. Lời tiên tri đó khải minh bản tánh của Đức Chúa Trời ở mức độ cần thiết hay có thể thấu triệt được cho đến khi Đấng khải minh toàn hảo hiện đến
  • Sứ điệp của Ma-la-chi gần như là một loạt bài giảng ngắn trong Cựu Ước

CHƯƠNG 8: NHÀ THI VỊNH

8.1. Sự tể trị trên cá nhân

  • Nhiều Thi thiên, nhất là những thi vịnh của Đa-vít xuất phát từ những hoàn cảnh hoạn nạn thiếu thốn của cá nhân, những cách thức diễn tả những đau khổ đó đã được Đức Thánh Linh tể trị
  • Một bản thánh ca chỉ thật sự vĩ đại khi nào kinh nghiệm cá nhân đằng sau nó phải được tổng quát hóa để cho đa số những người thờ phượng đều có thể hát lên với cảm xúc chân thành

8.2. Hai loại thi vịnh chính

  • Những thi vịnh của người Đức Chúa Trời do Thi 1 đại diện. Chúng ta thấy ông qua những nỗi buồn và niềm vui, những thất bại và chiến thắng, những sợ hãi và khải hoàn
  • Những Thi thiên của vị vua của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, vị vua thời Cựu Ước không phải là “thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc” đủ chứng tỏ rằng đây là lời tiên tri về vị vua chưa đến

8.3. Quy định tác giả

  • Ngày nay nói chung, người ta tin rằng nguyên thủy có ba sách, là Thi 1-41, 42-89 và 90-150. Nếu điều đó đúng thì ta có thể phỏng đoán không sai mấy là chúng có ba nhóm: của Đa-vít, của người Lê-vi và khuyết danh. Dĩ nhiên trong cả ba nhóm đều có Thi vịnh của Đa-vít và khuyết danh
  • Các Thi thiên vô danh phần lớn là những thánh ca thờ phượng, trong đó ca tụng Đức Chúa Trời vì lòng nhơn lành của Ngài
  • Trong các Thi thiên của Đa-vít, ngoài hai Thi thiên cảm tạ 65 và 103, đều có một sợi chỉ xuyên suốt đó là kẻ thù của ông, cũng là của Đức Chúa Trời. Đa-vít nói đến những kẻ thừa hành của Sa-tan, ông biết chúng không phải là kẻ ác suông vì chúng phục vụ cho một lực lượng gian ác
  • Các Thi thiên của con cháu Cô-rê ắt là do nhiều tác giả trong nhiều thời kỳ khác nhau
  • Các Thi thiên A-sáp xuất phát từ một dòng họ Lê-vi ca xướng

CHƯƠNG 9: CÁC SÁCH KHÔN NGOAN

9.1. Sách Châm ngôn

  • Sự khôn ngoan mà con người thâu lượm được bằng cách học hỏi quá khứ và hiện tại ở Y-sơ-ra-ên cũng như Cận Đông cổ thường được diễn đạt bằng những câu ngắn gọn, hàm súc, có khi gồm hai câu điệp ý hay đối ý. Phần lớn sách Châm ngôn gồm những câu song đối như thế
  • Sưu tập Sa-lô-môn thứ nhất (10:1-22 16:1-33) gồm 375 câu cách ngôn, tương ứng với trị số của những chữ làm thành tên vua. Sưu tập Sa-lô-môn thứ hai (25:1-12, 27) hoàn thành không tham khảo tập trước, vì có một số cách ngôn lập lại trong tập này
  • Sách Châm ngôn kết thúc bằng ba đoạn ngắn, lời của A-gu-rơ (30:1-33), lời của Lê-mu-ên (31:1-9) và một bài thơ mô tả người vợ lý tưởng (31:10-31)

9.2. Sách Gióp

  • Sách Gióp được đặt vào Kinh Thánh để bổ túc cho những giáo huấn của Châm ngôn. Có những điều trên đời không thể giải thích bằng sự khôn ngoan của sách Châm ngôn, chính lúc đó sách Gióp đưa chúng ta đến với một Đức Chúa Trời hành động theo nguyên tắc, nhưng một nguyên tắc quá vĩ đại khiến chúng ta không thể nào hiểu hết được những hành động và động cơ của Ngài

9.3. Sách Truyền đạo

  • Đối với nhiều người, đây là cuốn sách bí mật của Cựu Ước, ngày nay trong số những học giả nghiên cứu sách này ít ai còn cho rằng Sa-lô-môn là tác giả
  • Ngôn ngữ của sách là một loại tiếng Hê-bơ-rơ xưa thường thấy trong các sách vở Ra-bi khoảng 200 năm TC và hoàn toàn khác với lối văn của sách Châm ngôn và các sách lịch sử từ thời quân chủ thống nhất
  • Bài học tác giả đưa ra trong cuộc tìm kiếm của ông: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài”

CHƯƠNG 10: BỘ NĂM CUỐN

Trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ, có nhóm sách nhỏ Megillot được đọc trong các giáo đường vào dịp lễ chính mỗi năm: Nhã Ca đọc trong Lễ Vượt qua, Ru-tơ trong Lễ Ngũ tuần, Ca Thương trong Lễ Kiêng ăn Tisha b’Ab, Truyền đạo trong Đại lễ chuộc tội và Ê-xơ-tê trong Lễ Purim

Sách Truyền Đạo bàn về tính cách hư không của sự khôn ngoan và nỗ lực của con người, đã được bàn ở chương 9 liên hệ đến cách sách khôn ngoan

10.1. Sách Nhã Ca

  • Câu mở đầu không nhất thiết ngụ ý Sa-lô-môn là tác giả mà chỉ xác nhận có một sự liên hệ giữa bài thơ và vua Sa-lô-môn
  • Các Ra-bi xưa thường giải thích sách này theo nghĩa hình bóng, hình bóng về tình yêu của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên dầu không thể dùng cách giải thích cố định trong tất cả các phần khác nhau
  • Tuy nhiên, có người cảm thấy lối giải hình bóng này không lột tả hết được sự sinh động và say đắm của lời thơ, vì vậy họ cho đó là một biểu tượng
  • Gần đây hơn, lối giải thích phổ thông nhất là cho rằng đó là một vở kịch, nhưng chưa ai chứng minh được ngày xưa dân Y-sơ-ra-ên có những tuồng kịch như vậy
  • Những giải thích hiện đại nhất cho rằng đó là một loạt bài thơ về hôn nhân. Ở đây ta có lời ca ngợi tình yêu hôn nhân chân thật, thuần khiết, nhưng không quên rằng nó rút sức mạnh và ý nghĩa từ một tình yêu sâu sắc và tinh khiết hơn mà nó dự tả

10.2. Sách Ru-tơ

  • Sách có một vị trí đặc biệt trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ vì vào mọi thời nó đảm bảo cho người dân ngoại bang tìm được một chỗ trong dân của Đức Chúa Trời
  • Đối với chúng ta cũng vậy, nó nói lên tính cách ngoại lệ cho những ai “đến ẩn náu dưới cánh của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên”

10.3. Sách Ca Thương

  • Quyển sách gồm có 5 phiên khúc hay ca thương viết trong những năm ngay sau khi đền thờ Giê-ru-sa-lem bị Nê-bu-cát-nết-sa hủy phá. Không có lý do vững chắc nào để gán cho tất cả cùng một tác giả
  • Trong nỗi đau buồn vì mất mát, (các) tác giả quên đi lời hứa về sự phục hồi. Đức Chúa Trời sẵn lòng chấp nhận cho con người dốc đổ nỗi sầu thảm đương khi họ vẫn tiếp tục tin cậy Ngài, vì vậy Ngài đã để cho nỗi buồn ấy có chỗ bộc lộ trong Kinh Thánh
  • Ca thương không đánh tan đám mây đau buồn, nhưng bảo đảm với người than khóc rằng Đức Chúa Trời thông cảm và chấp nhận nỗi đau của họ

10.4. Sách Ê-xơ-tê

  • Trong Kinh Thánh chúng ta thường thấy ghi lại những sự việc xảy ra mà không bình luận đúng hoặc sai, sách Ê-xơ-tê là một ví dụy
  • Điều chúng ta mong mỏi học biết được là Đức Chúa Trời vẫn giữ sự thành tín giao ước với dân Ngài dù cho đại diện của họ lắm khi tỏ ra bất xứng
  • Sách Ê-xơ-tê cũng có vai trò trong toàn bộ mặc khải của Đức Chúa Trời, bảo đảm sự vững chắc của lời hứa

CHƯƠNG 11: NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

11.1. Sách Đa-ni-ên

  • Câu chuyện trong Đa-ni-ên không ghi lại để tôn vinh ông và các bạn nhưng để tỏ rằng không có một hoàn cảnh nào mà Đức Chúa Trời không thể bảo vệ kẻ thuộc về Ngài
  • Chỉ khi nào chúng ta hoàn toàn tin quyết nơi quyền tể trị tuyệt đối của Chúa, chúng ta mới có thể nhìn về tương lai cách ích lợi

11.2. Sách Sử ký

  • Các sách tiên tri trước từ Giô-suê đến Các Vua nhằm chứng tỏ lịch sử là một mặc khải của Đức Chúa Trời. Mục đích của người viết Sử ký khác, người viết muốn khích lệ dân Do Thái trong hoàn cảnh tuyệt vọng của họ. Một khi Ngài đã lập họ, họ nằm trong ý định của Ngài, không ai có quyền thay đổi họ nếu Đức Chúa Trời không thay đổi hay hủy bỏ họ
  • Sách cũng nhấn mạnh quyền năng Thánh Linh và sự tin cậy đơn sơ của con người
Posted in Tóm tắt sách

Tân Ước lược khảo (Viện Thần Học)

Chú thích:

  • Quyển Tân Ước Lược Khảo (tác giả: Viện Thần Học Việt Nam) có nội dung tương đồng với quyển Tân Ước Căn Bản (đã tóm tắt) nhưng khác về cách diễn đạt. Quyển Tân Ước Căn Bản được viết như là dạng đề cương cho quyển Tân Ước Lược Khảo, trong khi quyển Tân Ước Lược Khảo theo cách diễn giải
  • Quyển Tân Ước Lược Khảo có cách phân chia chương mục khác và nhiều thông tin chi tiết hơn, cũng như đề cập các nguồn sách tham khảo
  • Quyển Tân Ước Căn Bản trong VietBible bị thiếu phần về ba thư tín I II III Giăng và sách Khải huyền
  • Ở đây xin phép được lướt qua những phần tương đồng giữa hai sách đã tóm tắt trong quyển Tân Ước Căn Bản và tập trung vào những phần quyển này không có

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

Tác giả: Viện Thần Học Việt Nam

Nguồn: có thể tìm đọc trong VietBible

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CÔNG CUỘC TRƯỚC TÁC TÂN ƯỚC

1.1. Công cuộc chuẩn bị người Do Thái

1.2. Công cuộc chuẩn bị người Hy Lạp

1.3. Công cuộc chuẩn bị người La Mã

1.4. Palestine vào thế kỷ đầu tiên

1.5. Công cuộc trước tác Tân Ước

  • Chia theo thời gian
  • Chia theo văn thể

1.6. Thánh vụ của Chúa Jesus qua các Phúc Âm

1.7. Văn chương Tân Ước

CHƯƠNG 2: CÁC SÁCH PHÚC ÂM CỘNG QUAN (MA-THI-Ơ, MÁC, LU-CA)

2.1. Phúc Âm Ma-thi-ơ

2.2. Phúc Âm Mác

2.3. Phúc Âm Lu-ca

CHƯƠNG 3: SÁCH PHÚC ÂM GIĂNG

3.1. Tác giả

3.2. Mục đích và nội dung

3.3. Bố cục

3.4. Những điều dạy dỗ của Chúa

3.5. Hội kiến cá nhân

3.6. Bài giảng nơi Phòng Cao

3.7. Nhập đề và kết đề

CHƯƠNG 4: SÁCH CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ

4.1. Mục đích

4.2. Bố cục

4.3. Tin Lành tại Giê-ru-sa-lem

4.4. Tin Lành tại Giu-đê và Sa-ma-ri

4.5. Tin Lành ở những xứ xa

4.6. Các hành trình của Phao-lô

4.7. Liên hệ giữa Công vụ với các Phúc Âm và các thư tín

CHƯƠNG 5: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – I&II TÊ-SA-LÔ-NI-CA

5.1. Thân thế của Phao-lô

5.2. Phao-lô quy đạo

5.3. Thánh vụ của Phao-lô

5.4. I Tê-sa-lô-ni-ca

  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

5.5. II Tê-sa-lô-ni-ca

  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

CHƯƠNG 6: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – I&II CÔ-RINH-TÔ

6.1. I Cô-rinh-tô

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

6.2. II Cô-rinh-tô

  • Mục đích
  • Bố cục
  • Bối cảnh
  • Đặc điểm

CHƯƠNG 7: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – GA-LA-TI VÀ LA MÃ

7.1. Ga-la-ti

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

7.2. La Mã

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung:
    • Lời mở đầu mang tính cá nhân và thần học
    • Tình trạng tội lỗi của con người và chứng minh nhu cầu phổ quát của sự cứu rỗi
    • Sự cung ứng của Thượng đế
    • Hệ quả luận lý của sự cứu chuộc
    • Tính cách phổ quát của sự cứu chuộc
    • Sự cứu chuộc bày tỏ ra bên ngoài

CHƯƠNG 8: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – CÔ-LÔ-SE, PHI-LÊ-MÔN, Ê-PHÊ-SÔ VÀ PHI-LÍP

8.1. Cô-lô-se

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • So sánh với Ê-phê-sô
  • Mục đích và nội dung

8.2. Phi-lê-môn

  • Bối cảnh
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Cầu nguyện cho thánh vụ của Phi-lê-môn, (3) Thỉnh cầu thu dụng Ô-nê-sim, (4) Viễn cảnh Phao-lô viếng thăm, (5) Kết luận
  • Mục đích

8.3. Ê-phê-sô

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

8.4. Phi-líp

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

CHƯƠNG 9: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – I TI-MÔ-THÊ, TÍT, II TI-MÔ-THÊ

9.1. I Ti-mô-thê

  • Bối cảnh
  • Mục đích
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Ủy thác cho Ti-mô-thê, (3) Lời khuyên về trật tự Hội thánh, (4) Điều kiện làm các viên chức trong Hội thánh (trưởng lão và chấp sự), (5) Nói thêm, (6) Huấn thị về sinh hoạt Hội thánh, (7) Kết luận
  • Đặc điểm

9.2. Tít

  • Bối cảnh
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Huấn thị của Phao-lô cho Tít (về Hội thánh, cá nhân, thế gian, tà giáo), (3) Việc riêng, (4) Kết luận
  • Mục đích và nội dung

9.3. II Ti-mô-thê

  • Bối cảnh
  • Mục đích và nội dung
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Cảm tạ về Ti-mô-thê, (3) Khuyên nhủ Ti-mô-thê, (4) Cảnh giác Ti-mô-thê, (5) Lời dặn dò cuối cùng, (6) Huấn thị cá nhân cho Ti-mô-thê, (7) Kết luận
  • Đặc điểm

CHƯƠNG 10: HỘI THÁNH VÀ SỰ ĐAU KHỔ – GIA-CƠ, HÊ-BƠ-RƠ, I PHI-E-RƠ

10.1. Gia-cơ

  • Tác giả
  • Bố cục: (1) Nhập đề, (2) Trắc nghiệm đức tin, (3) Bản chất của đức tin, (4) Công việc của đức tin, (5) Ứng dụng của đức tin
  • Mục đích và nội dung

10.2. Hê-bơ-rơ

  • Chủ đề
  • Tác giả
  • Bố cục: (1) Sự cao trọng của Chúa Chí tôn, (2) Sự cao trọng của đức tin, (3) Kết luận và chào thăm
  • Mục đích và nội dung

10.3. I Phi-e-rơ

  • Bối cảnh
  • Tác giả
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Quan điểm và đau khổ, (3) Áp lực và đau khổ, (4) Phục vụ và đau khổ, (5) Làm chứng và đau khổ, (6) Thái độ cá nhân và đau khổ, (7) Kết luận
  • Mục đích và nội dung

CHƯƠNG 11: HỘI THÁNH VÀ TÀ GIÁO – II PHI-E-RƠ, GIU-ĐE, I II III GIĂNG)

11.1. I Phi-e-rơ

  • Tác giả
  • Chủ đề
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

11.2. Giu-đe

  • Tác giả
  • Chủ đề
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

11.3. I Giăng

  • Bối cảnh:
    • Giăng viết để chống lại nhóm Trí huệ (Gnostic), những kẻ bác bỏ nhân tính và thần tính của Chúa
    • Các sách của Giăng thường phỏng định vào khoảng giữa năm 85-95 SC
  • Mục đích và nội dung: định nghĩa bản tính của Chúa Jesus giữa lúc tà giáo xâm nhập Hội thánh vào cuối thế kỷ I
  • Bố cục:
    • Nhập đề mối tương giao có thật
    • Điều kiện cho sự tương giao
    • Tính ưu thắng của sự tương giao
    • Kẻ thù của sự tương giao
    • Lý do cần phải tương giao
    • Trắc nghiệm sự tương giao
    • Phân biệt sự tương giao
    • Thực hành sự tương giao
    • Nền tảng của sự tương giao
    • Đặc quyền của sự tương giao
  • Đặc điểm: Giăng miêu tả Thượng đế là ánh sáng và tình yêu

11.4. II Giăng

  • Mục đích và nội dung:
    • Hai thư II III Giăng dường như nằm trong những thư từ các nhân của Giăng Cả hai đều gửi cho cá nhân
    • Chữ chìa khóa của thư là “chân lý”
  • Bố cục:
    • Chào thăm
    • Bước đi trong chân lý
    • Điều luật của Đức Chúa Cha
    • Nhắn nhủ những kẻ phỉnh gạt
    • Kết luận

11.5. III Giăng

  • Mục đích và nội dung:
    • Người nhận thư: Gai-út
    • Chữ chìa khóa là “hiếu khách”
    • Giăng sẽ có biện pháp kỷ luật với Đi-ô-trép
    • Đê-mê-tri-út được khen ngợi
  • Bố cục:
    • Chào thăm
    • Cầu nguyện cho sức khỏe của Gai-út
    • Khen ngợi tinh thần hiếu khách của Gai-út
    • Lên án đường lối của Đi-ô-trép
    • Khen ngợi tánh tình Đê-mê-tri-út
    • Kết luận

CHƯƠNG 12: SÁCH KHẢI THỊ

12.1. Đặc điểm của các loại sách Khải huyền

  • Thường viết trong thời kỳ rối loạn, buồn nản
  • Chuyên chở sứ điệp bằng ký hiệu, biểu tượng, giấc mơ, thị tượng
  • Lời hứa thiện sẽ thắng ác

12.2. Bối cảnh

  • Những hãm hại và khó khăn đang đe dọa Hội thánh
  • Thời gian viết khoảng năm 90-95 SC

12.3. Các phương pháp thông giải

  • Phương pháp quá khứ
  • Phương pháp lịch sử
  • Phương pháp tương lai
  • Phương pháp biểu ý

12.4. Cấu trúc quyển sách: 4 thị tượng của Giăng

12.5. Bố cục

  • Nhập đề
  • Thị tượng 1: Chúa Chí tôn và bảy Hội thánh
  • Thị tượng 2: Chúa Chí tôn và các cuộc phán xét trái đất
  • Thị tượng 3: Chúa Chí tôn và những chiến thắng của Ngài
  • Thị tượng 4: Chúa Chí tôn và tân nương của Ngài

12.6. Ba loạt phán xét

Posted in Tóm tắt sách

Tân Ước căn bản

Tác giả: không rõ

Nguồn: có thể tìm đọc trong VietBible

PHẦN 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TRƯỚC TÁC TÂN ƯỚC

I. Công cuộc chuẩn bị người Do Thái

  1. Đặc ơn: được chọn nhưng họ đã thất bại
  2. Đại tản lạc và ảnh hưởng: bị Nê-bu-cát-nết-sa bắt làm phu tù qua xứ Ba-by-lôn năm 587 TC, từ đó tản lạc khắp thế giới.
    • Truyền bá đặc điểm Do Thái: độc thần và Luật pháp Thượng đế
    • Năm 250-150 TC, bộ Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ được dịch ra tiếng Hy Lạp tại Ai Cập, gọi là bản Bảy mươi (Septuangint)
  3. Đảng tôn giáo Do Thái: đảng Sa-đu-sê và đảng Pha-ri-si

II. Công cuộc chuẩn bị người Hy Lạp

  1. Một ngôn ngữ và một thế giới là tham vọng của Alexandre đại đế
  2. Ảnh hưởng ngôn ngữ Hy Lạp cung cấp phương tiện truyền bá sứ điệp Cơ đốc

III. Công cuộc chuẩn bị người La Mã

  1. Đặc tính đế quốc La Mã: duy trì luật pháp và trật tự, lãnh thổ kéo dài rộng khắp
  2. Ảnh hưởng tổ chức La Mã: tạo được một thời kỳ hòa bình (triều Cesar Augustus) và hệ thống đường sá hoàn chỉnh. Tuy nhiên, có sự suy đồi về luân lý và tôn giáo

IV. Palestine vào thế kỷ đầu tiên

  1. Chính quyền Do Thái
  2. Chính quyền La Mã
  3. Tổ chức tôn giáo Do Thái
  4. Bối cảnh

V. Công cuộc trước tác Tân Ước

  1. Chia theo thời gian
  2. Chia theo văn thể: sử ký, thư tín và tiên tri

PHẦN 2: CÁC SÁCH PHÚC ÂM CỘNG QUAN

Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca là ba sách Phúc Âm cộng quan vì có cùng quan điểm về đời sống Chúa Jesus

I. Phúc Âm Ma-thi-ơ

  • Tác giả: theo truyền thuyết là Ma-thi-ơ (còn được gọi Lê-vi), người thu thuế
  • Mục đích và nội dung: trình bày cho độc giả Do Thái rằng Chúa Jesus là Đấng Mê-si, đề cập đến nước thiên đàng, là nhịp cầu giữa Cựu Ước và Tân Ước
  • Những bài giảng luận của Chúa
  • Bố cục: (1) Giới thiệu Vua, (2) Đòi hỏi của Vua, (3) Công việc của Vua, (4) Chương trình của Vua, (5) Số phận của Vua, (6) Vấn đề của Vua, (7) Sự chết và phục sinh của Vua, (8) Ủy nhiệm cuối

II. Phúc Âm Mác

  • Tác giả: Mác không phải sứ đồ, quê quán Giê-ru-sa-lem, em họ Ba-na-ba, cộng sự viên của các sứ đồ và của Phao-lô
  • Mục đích và nội dung: trình bày cho độc giả La Mã rằng Chúa Jesus là “đầy tớ Đức Giê-hô-va”, về “sự chết và phục sinh của Ngài”
  • Bố cục: Chủ đề hoạt động của Đấng Christ với các hành trình và ba lần công bố về sự khổ nạn

III. Phúc Âm Lu-ca

  • Tác giả: Lu-ca không phải sứ đồ, là y sĩ, bạn đồng hành của Phao-lô
  • Mục đích và nội dung: trình bày cho độc giả Hy Lạp rằng Chúa Jesus là “Con Người” lý tưởng, điều tìm kiếm của người Hy Lạp
  • Bố cục: (1) Mục đích, (2) Chuẩn bị của Con Người, (3) Thánh vụ ở Ga-li-lê, (4) Thánh vụ ở Bê-rê, (5) Thánh vụ ở Giê-ru-sa-lem, (6) Thánh vụ khổ nạn, (7) Thánh vụ phục sinh

IV. Những đặc điểm chung

  • Điểm chung là lời dạy và các biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Jesus

V. Những nét đặc biệt khác

  • Sự ra đời phi thường của Chúa Jesus
  • Các ngụ ngôn của Ngài
  • Nước Thượng Đế
  • Các phép lạ

PHẦN 3: PHÚC ÂM GIĂNG

I. Tác giả

  • Theo truyền thuyết là Giăng, con Xê-bê-đê, em Gia-cơ, là môn đồ “được Chúa yêu”

II. Mục đích và nội dung

  • Ghi chép những “Dấu lạ”
  • Hầu cho các ngươi TIN
  • Nhờ Danh Ngài mà được “Sự sống”

III. Bố cục

  • Nhập đề
  • Thánh vụ công khai
  • Thánh vụ riêng tư
  • Thánh vụ khổ nạn
  • Kết luận

IV. Những điều dạy dỗ của Chúa

  • Liên hệ giữa dấu lạ và sự dạy dỗ
  • Bảy điều “Ta là”: Bánh sự sống; Ánh sáng thế gian; Cái cửa; Người chăn tốt; Sự sống lại và sự sống; Đường đi, chân lý và sự sống; Gốc nho thật. Ngoài ra, là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu

V. Hội kiến cá nhân

  • Anh-rê; Phi-e-rơ; Ni-cô-đem; Phi-líp; người đàn bà Sa-ma-ri; người mù; Ma-thê và Ma-ri; Thô-ma, Phi-lát và Giu-đa

VI. Bài giảng nơi Phòng cao

  • 92% chỉ có ở sách Giăng
  • Chúa dạy hai điều: Ngài đi sắm chỗ cho họ; Đức Thánh Linh sẽ đến với họ làm Đấng yên ủi và giáo sư đưa họ vào mọi lẽ thật, là nguồn quyền năng để làm chứng nhân cho Chúa

VII. Nhập đề và Kết luận

PHẦN 4: SÁCH CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ

Đây là sách thứ hai của Lu-ca viết về lịch sử Cơ đốc giáo, miêu tả sinh hoạt Hội thánh sơ khai

I. Mục đích

  • Động cơ lịch sử
  • Động cơ giáo lý
  • Động cơ biện giáo
  • Động cơ tiểu sử

II. Bố cục

  • Câu chìa khóa Lu-ca 1:8
  • Bố cục

III. Tin Lành tại Giê-ru-sa-lem

  • Nhân vật chính: Phi-e-rơ
  • Điểm nổi bật: tinh thần hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân trong mọi sinh hoạt
  • Chấp sự Ê-tiên, anh hùng đức tin, là người tuận đạo đầu tiên

IV. Tin Lành tại Giu-đê và Sa-ma-ri

  • Chấp sự Phi-líp, đến Sa-ma-ri mang kết quả khả quan
  • Tin Lành cho người ngoại bang
  • Sau-lơ quy đạo

V. Tin Lành ở những xứ xa

  • Căn cứ địa truyền giáo: An-ti-ốt xứ Sy-ri
  • Hội thánh An-ti-ốt

VI. Các hành trình của Phao-lô

  • Địa điểm: hành trình 1 tập trung ở Ga-la-ti, hành trình 2 ở Ma-xê-đoan và A-chai, hành trình 3 ở tỉnh A-si
  • Tình huống và thính giả
  • Trình bày sứ điệp
  • Bị bắt và bỏ tù

VII. Liên hệ giữa Công vụ với các Phúc Âm và Thư tín

  • Là gạch nối giữa Phúc Âm và Thư tín
  • Hoàn tất câu chuyện Phúc Âm
  • Ứng nghiệm lời tiên tri của Chúa về Hội thánh
  • Dọn đường cho Thư tín
  • Soi sáng nguyên tắc sinh hoạt Hội thánh

PHẦN 5: CUỘC ĐỜI PHAO-LÔ

I. Thân thế của Phao-lô

  • Người Do Thái: sinh ra trong gia đình Do Thái tại Tạt-sơ, tỉnh Si-li-si, chi phái Bên-gia-min
  • Tôn giáo: học với Ga-ma-li-ên, một giáo sư lỗi lạc thuộc trường phái Hillel tại Giê-ru-sa-lem
  • Văn hóa: ông là người Hy Lạp, quen thuộc với văn hóa Hy Lạp, là học giả biết nhiều phương ngôn cổ điển và đương thời
  • Công dân La Mã

II. Phao-lô quy đạo

  • Chống Chúa: đồng tình với đám đông giết Ê-tiên
  • Gặp Chúa trên đường Đa-mách: ông lui về Ả Rập và Đa-mách một thời gian trước khi đi Giê-ru-sa-lem. Sau đó ông trở về quê hương trong khoảng 8-10 năm trước khi được Ba-na-ba mời về An-ti-ốt xứ Sy-ri để hầu việc Chúa

III. Thánh vụ của Phao-lô

  • Thánh vụ truyền giáo
  • Thánh vụ viết thư: thư tín của ông có thể chia thành bốn nhóm
    • Thư tín tận thế học (I và II Tê-sa-lô-ni-ca, khoảng năm 50-51 SC)
    • Thư tín cứu thục học (I và II Cô-rinh-tô, Ga-la-ti và Rô-ma, khoảng năm 55-58 SC)
    • Thư tín Cơ đốc học (Cô-lô-se, Phi-lê-môn, Ê-phê-sô và Phi-líp, khoảng năm 60-62 SC, còn gọi là Thư tín trong tù)
    • Thư tín Giáo hội học (I và II Ti-mô-thê, Tít, khoảng năm 63-67 SC)

IV. I Tê-sa-lô-ni-ca

  • Bối cảnh: thành lập Hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca, sau đó từ Cô-rinh-tô ông viết thư cho tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca đang bị bắt bớ sau khi được Ti-mô-thê cho biết tin mừng về Hội thánh
  • Bố cục: (1) lời chào thăm, (2) lời cảm tạ, (3) bênh vực Thánh vụ, (4) nếp sống Cơ đốc, (5) kết luận
  • Mục đích và nội dung: tâm tình, khích lệ, an ủi, khuyên dạy

V. II Tê-sa-lô-ni-ca

  • Bố cục: (1) lời chào thăm, (2) dự báo về ngày của Chúa, (3) miêu tả ngày của Chúa, (4) khuyên cầu nguyện và cư xử tốt đẹp, (5) kết luận
  • Mục đích và nội dung: giải đáp thắc mắc, giáo huấn, khích lệ, khuyên bảo thực tiễn

PHẦN 6: THƯ TÍN PHAO-LÔ VỀ CỨU THỤC HỌC (I & II CÔ-RINH-TÔ)

Thư tín I và II Cô-rinh-tô được xếp vào nhóm Cứu thục học vì phần lớn nói về sự cứu rỗi. Tư tưởng trọng tâm là niềm tin trong Chúa và sự tận hiến cho Ngài. Thư đầu viết từ Ê-phê-sô, thư sau có lẽ từ Ma-xê-đoan

I. I Cô-rinh-tô

  • Bối cảnh: Phao-lô đến Cô-rinh-tô lần đầu trong chuyến truyền giáo thứ hai. Sau đó ông lìa Cô-rinh-tô đi Ê-phê-sô. Từ Ê-phê-sô ông viết thư tín này
  • Bố cục: (1) lời mở đầu, (2) trả lời báo cáo của Cơ-lô-ê, (3) trả lời thư Hội thánh Cô-rinh-tô, (4) kết luận
  • Mục đích và nội dung
    • Quan niệm chính: sự cứu chuộc phải áp dụng cho nếp sống hàng ngày, sự sống mới trong Chúa phải toát thành nếp sống
    • Thẩm quyền Hội thánh
    • Các vấn đề khác: dâm dục, kiện tụng, quan hệ tín hữu, thánh khiết trong hôn nhân, lương tâm, Thánh vụ phụ nữ và điều kiện dự Tiệc thánh, ân tứ, giáo lý Phục sinh, sự dâng hiến

II. II Cô-rinh-tô

  • Mục đích: bênh vực thánh vụ và chức vụ sứ đồ, kêu gọi tín hữu làm trọn thiên chức ban phát
  • Bố cục: (1) lời chào thăm, (2) Thánh vụ Cơ đốc, (3) vấn đề dâng hiến, (4) vấn đề người phục vụ Cơ đốc, (5) kết luận
  • Bối cảnh: tại Ma-xê-đoan ông vui mừng khi nghe phúc trình của Tít, tuy nhiên vẫn có một số vấn đề không thuận lợi nên ông bộc lộ tâm tình qua thơ II Cô-rinh-tô
  • Đặc điểm: ngoài những điểm cá nhân, Phao-lô xác nhận nhiều giáo lý quan trọng như Phẩm tính và công việc của Thượng đế, đối chiếu giao ước cũ và giao ước mới, tình trạng tương lai, thánh vụ giải hòa và sự quản lý tiền bạc của tín hữu

PHẦN 7: THƯ TÍN PHAO-LÔ VỀ SỰ CỨU RỖI

I. Thư Ga-la-ti

  • Bối cảnh:
    • Thời gian: có thể là thư tín sớm nhất của Phao-lô, viết sau chuyến truyền giảng thứ nhất khoảng năm 48-49
    • Nơi nhận: Ga-la-ti có thể hiểu theo hai cách (1) lãnh thổ miền đông Tiểu Á nơi người Gaul định cư vào thế kỷ thứ ba, (2) lãnh thổ do La Mã nới rộng thêm vùng đất phía nam
  • Mục đích:
    • Bày tỏ sự ngạc nhiên khi tín hữu bỏ lòng trung thành
    • Lên án những kẻ xuyên tạc Tin Lành
    • Giãi bày Thượng đế xưng công bình bởi đức tin chứ không bởi việc làm
    • Đấng Christ đã giải thoát chúng ta khỏi sự trói buộc của luật pháp
  • Bố cục và nội dung: (1) lời mở đầu, (2) nội dung: Tin Lành được mặc khải, Tin Lành được dự ngôn, Tin Lành ứng dụng, (3) kết luận

II. Thư La Mã

  • Bối cảnh: trong chuyến truyền giáo thứ ba trước khi lìa Cô-rinh-tô, ông viết thơ Rô-ma thay cho cuộc thăm viếng và gửi thơ qua Phê-bê
  • Bố cục và nội dung: (1) phần nhập đề, (2) nội dung: Nhu cầu được cứu chuộc, Sự cung ứng của Thượng đế, Hiệu quả của sự cứu chuộc, Phạm vi của sự cứu chuộc, Bông trái của sự cứu chuộc, (3) kết luận

PHẦN 8: THƯ TÍN TRONG TÙ CỦA PHAO-LÔ

I. Thư Cô-lô-se

  • Bối cảnh: thành phố Cô-lô-se nhỏ và kém quan trọng hơn Ê-phê-sô, chịu ảnh hưởng nhiều ý thức hệ đối chọi nhau
  • So sánh với thư Ê-phê-sô:
    • Giống: nhấn mạnh địa vị Đấng Christ và Hội thánh là thân thể Ngài, áp dụng Tin Lành trong thực tế
    • Khác: Cô-lô-se chú trọng địa vị hàng đầu của Đấng Christ, Ê-phê-sô chú trọng bản chất của Hội thánh
  • Mục đích và nội dung:
    • Nhấn mạnh địa vị ưu việt của Đấng Christ trong 4 mối tương quan với Thượng đế, với tạo vật, với Hội thánh và với công cuộc cứu chuộc
    • Phân tích sự sai lầm của giáo lý giả (triết học duy lý, tôn giáo duy luật, khiêm nhường giả hiệu)
    • Nhấn mạnh sự cần yếu của nếp sống mới

II. Thư Phi-lê-môn

  • Bối cảnh: là thí dụ điển hình trong cách giao thiệp của Phao-lô, đi kèm với thư Cô-lô-se, là bức thư Cơ đốc nhờ giúp nhau trong mối liên hệ với Chúa
  • Mục đích:
    • Nguyên lý sự tha thứ và phục hồi trên căn bản thay thế để xin Phi-lê-môn tha thứ cho Ô-nê-sim, nhận lại như anh em yêu dấu
    • Nguyên lý quy kết (công tác một người được kể cho người khác)

III. Thư Ê-phê-sô

  • Bối cảnh: thành phố Ê-phê-sô tự cho là hàng đầu A-si, Hội thánh Ê-phê-sô có thể ăn “thức ăn cứng” và vấn đề tà linh, “bỏ lòng kính mến ban đầu”, Ti-mô-thê được đặt để tiếp nối công tác và đối đầu các giáo sư giả
  • Bố cục: chủ đề trung tâm “Hội thánh là thân thể của Đấng Christ”
  • Mục đích và nội dung:
    • Người tin Chúa là thánh (địa vị) và trung tín (đặc tính)
    • Hội thánh được hình thành do sự tuyển lựa, được cứu chuộc và đóng ấn bằng Đức Thánh Linh
    • Hội thánh được kêu gọi trở nên Nhà lớn gồm cả Do Thái lẫn dân ngoại
    • Người Cơ đốc phải bước đi xứng đáng trong sự yêu thương, thánh khiết, khôn ngoan như chi thể của thân Chúa
    • Phải chiến tranh với thế lực tối tăm bằng khí giới của Thượng đế

IV. Thư Phi-líp

  • Bối cảnh: Phi-líp là thành Âu Châu đầu tiên nghe Tin Lành
  • Bố cục: chủ đề Tin Lành và từ khóa Vui mừng
  • Mục đích và nội dung:
    • Khuyên hiệp một trong khiêm nhường và trưởng thành trong Chúa
    • Giáo lý về sự nhập thể và tôn cao của Chúa Jesus và áp dụng trên Phao-lô
    • Gương sống của Chúa Jesus

PHẦN 9: THƯ TÍN MỤC VỤ CỦA PHAO-LÔ

I & II Ti-mô-thê cùng Tít là nhóm thư tín cuối cùng của cuộc đời Phao-lô khoảng năm 63-67, được gọi là thư tín Mục vụ vì nhấn mạnh trách nhiệm và chức năng của Mục sư

I. I Ti-mô-thê

  • Bối cảnh: Ti-mô-thê quy đạo, sau đó tháp tùng Phao-lô và được để lại Ê-phê-sô để chỉnh đốn công việc về giáo lý và tổ chức. Từ La Mã, Phao-lô viết thư cho Ti-mô-thê
  • Mục đích: nhấn mạnh trách nhiệm Ti-mô-thê phải làm tròn và nhấn mạnh việc dạy dỗ tổ chức quản lý Hội thánh
  • Đặc điểm: Hội thánh lý tưởng phải là Hội thánh có nếp sống cầu nguyện đàng hoàng, có tổ chức đàng hoàng và được quản trị đàng hoàng

II. Tít

  • Bối cảnh: Tít quy đạo, được xem là “chuyên gia giải quyết công việc”, được Phao-lô để lại Cơ-rết để tổ chức, quản lý và dạy dỗ
  • Mục đích và nội dung:
    • Nan đề tại Cơ-rết: giáo sư giả và nếp sống lơi lỏng đạo đức cùng tinh thần lười nhác
    • Giải quyết nan đề: Giáo lý lành mạnh, Giáo lý Cứu rỗi, Giáo lý về Thượng đế, điều kiện về trưởng lão (giám mục)

III. II Ti-mô-thê

  • Bối cảnh: Phao-lô viết thư trong lúc đợi án tử hình chứ không mong được trả tự do
  • Mục đích và nội dung:
    • Lời cuối của Phao-lô trong Tân Ước
    • Tâm tình đối với Ti-mô-thê và các công tác mục vụ tại Ê-phê-sô
  • Đặc điểm:
    • Thánh vụ Cơ đốc
    • Tính chất Kinh Thánh
    • Lời nhắn nhủ

PHẦN 10: HỘI THÁNH VÀ SỰ ĐAU KHỔ (GIA-CƠ, HÊ-BƠ-RƠ, I PHI-E-RƠ)

Tình trạng chung là vào thế kỷ đầu, nhiều nơi nhiều lúc Hội thánh phải chịu đau khổ do nhiều lý do khác nhau dễ khiến nản lòng

I. Gia-cơ

  • Tổng quan: là sách thực tế nhất bàn về những vấn đề hàng ngày (nói năng, buôn bán, các mối quan hệ…) và nêu lên đức tin ứng dụng
  • Tác giả: theo lời tự giới thiệu là Gia-cơ, tôi tớ của Thượng đế và của Chúa Jesus (tuy nhiên, có nhiều người tên là Gia-cơ, theo truyền thuyết đây là Gia-cơ em Chúa)
  • Mục đích và nội dung:
    • Mở đầu: nhấn mạnh sự vui mừng trọn vẹn giữa đau khổ cũng như sự vui mừng cảm tạ trong mọi hoàn cảnh
    • Vấn đề thử thách: mục đích thử thách là đem nhẫn nhục và trọn lành
    • Đức tin và việc làm: đức tin thật phải sinh sản, sống là phải động

II. Hê-bơ-rơ

  • Chủ đề:
    • Trọng tâm là kêu gọi tín hữu tiến đến sự trọn lành
    • Cảnh cáo nguy cơ của sự vô tín, ấu trĩ và bội đạo
    • Nhấn mạnh địa vị ưu việt của Chúa Jesus
  • Tác giả: có thể là Phao-lô, hoặc Ba-na-ba, Lu-ca, A-bô-lô
  • Mục đích và nội dung:
    • Hai chủ đề song song là Sự cao trọng của Chúa Jesus và Cuộc sống đức tin của các tín hữu
    • Lời mở đầu: tóm tắt toàn bộ mặc khải của Thượng đế
    • Chủ đề đức tin
    • Lời cảnh cáo

III. I Phi-e-rơ

  • Bối cảnh:
    • Độc giả: người được chọn đang tản lạc, chịu hoạn nạn bắt bớ
    • Đau khổ: dùng 10 lần chỉ về số phận của tín đồ, thử thách chép 2 lần
    • Hy vọng: Chúa có chủ đích khi cho phép khó khăn xảy ra
  • Tác giả: Phi-e-rơ quy đạo, được chọn làm sứ đồ và trở thành lãnh tụ Hội thánh
  • Mục đích và nội dung:
    • Chịu khổ: chứng tỏ đức tin thật và chúng ta được khen ngợi
    • Lời khuyên: hãy chịu khổ theo ý Đức Chúa Trời
    • Hy vọng: chính Chúa sẽ làm cho anh em toàn hảo, vững lập và mạnh mẽ
    • Mệnh lệnh: sống cho Thượng đế là một đòi hỏi thật sự

PHẦN 11: HỘI THÁNH VÀ TÀ GIÁO (II PHI-E-RƠ, GIU-ĐE, I II III GIĂNG)

Năm bức thư ngắn này cùng quan tâm đến những điều dạy dỗ giả trá về giáo lý và luân lý Cơ đốc

  • II Phi-e-rơ và Giu-đe cảnh cáo kẻ khinh thị quyền bính của Chúa và Lời Ngài
  • Ba bức thư của Giăng (vô danh) chống lại Trí huệ giáo lúc ấy đã là giáo lý có hệ thống. Họ cho mình có tri thức thần bí hơn người để đạt sự cứu rỗi với quan niệm lệch lạc về Chúa Jesus và bản chất vạn vật. Giăng gọi đó là tinh thần chống Đấng Christ

I. II Phi-e-rơ

  • Tác giả: Phi-e-rơ
  • Chủ đề: Lời Thượng đế là chân thật và là tiêu chuẩn cho nếp sống Cơ đốc. Từ chìa khóa “Tri thức”
  • Bố cục: (1) Nhập đề, (2) Tri thức và nếp sống Cơ đốc, (3) Tri thức và Lời Thượng đế, (4) Tri thức và giáo lý giả, (5) Tri thức và Chúa tái lâm, (6) Đứng vững và lớn lên
  • Mục đích và nội dung:
    • Lời mở đầu: trách nhiệm người tin là phải tự tìm đến nguồn cung ứng thiên thượng
    • Giải luận chính:
      • Lời Thượng đế bởi Đức Thánh Linh ban cho
      • Con đường giáo sư giả cùng kẻ theo họ sẽ dẫn đến sự phán xét
      • Sự tái lâm bày tỏ uy danh và mục đích của Chúa
    • Lời kêu gọi

II. Giu-đe

  • Tác giả: Giu-đe em Gia-cơ, viết sau II Phi-e-rơ vào khoảng năm 75-80
  • Chủ đề:
    • Đức tin đã truyền cho các thánh một lần đủ cả
    • Giáo lý không tách rời khỏi đời sống
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Lời khuyên bảo vệ đức tin, (3) Minh giải tẻ tách đức tin, (4) Khuyên nhủ tiến bộ trong đức tin, (5) Lời ca tụng
  • Mục đích và nội dung: cũng như II Phi-e-rơ, Giu-đe dùng Cựu Ước soi sáng tình trạng vô đạo và sự phán xét của Thượng đế trên họ

(Sách trong VietBible thiếu phần viết về I II III Giăng và Khải huyền)

Posted in Tóm tắt sách

Cựu Ước giản lược (Huang Sabin)

Tác giả: Huang Sabin

Nguồn sách: có thể tìm đọc trong VietBible

1-SÁNG THẾ KÝ

  • Tác giả: Môi-se
  • Thời kỳ hình thành sách: sau biến cố xuất hành
  • Mục đích: dạy cho dân Đức Chúa Trời biết họ là tuyển dân của Ngài
  • Đối tượng: người cần đặt nền móng cho niềm tin Cơ đốc
  • Ý chính: thời khai nguyên của phước hạnh
  • Chủ đề chính: phước hạnh
  • Câu gốc: Sáng 12:1-3
  • Phân tích:
    1. Đức Chúa Trời dựng nên con người để ban phước hạnh cho họ, Ngài chọn dân Do Thái để từ đó ban phước cho nhân loại
    2. Đức Chúa Trời tạo dựng bạn để ban phước lành và chọn bạn để làm nguồn phước cho thế gian
    3. Chúng ta cần gieo tình yêu thương, sự bình an và niềm vui của Chúa Jesus cho mọi người xung quanh

2-XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ

  • Tác giả: Môi-se
  • Thời kỳ hình thành sách: sau biến cố xuất hành
  • Mục đích: nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên về quyền năng của Đức Chúa Trời trước khi họ đánh chiếm Đất hứa
  • Đối tượng: người mới được cứu
  • Ý chính: thoát ra để tôn vinh
  • Chủ đề chính: thờ phượng
  • Câu gốc: Xuất 4:23
  • Phân tích:
    1. Chủ đề chính của sách Xuất Ê-díp-tô ký là thờ phượng
    2. Chúng ta được cứu chuộc để thờ phượng Đức Chúa Trời
    3. Thực hành:
    • Sự thờ phượng tập trung vào Đức Chúa Trời
    • Thờ phượng và phục vụ phải đi đôi
    • Sự thờ phượng dành cho những người được cứu

3-LÊ-VI KÝ

  • Tác giả: Môi-se
  • Thời kỳ hình thành sách: tại núi Si-nai
  • Mục đích: kêu gọi dân Chúa biết giữ mình tách riêng khỏi các dân tộc khác khi họ vào xứ thánh
  • Đối tượng: người được cứu chuộc, cần nhận thức về địa vị của mình
  • Ý chính: thầy tế lễ và các ngày lễ
  • Chủ đề chính: thánh khiết
  • Câu gốc: Lê-vi ký 11:44-45
  • Phân tích:
    1. Sự thánh khiết là bản tánh bày tỏ nhiều nhất về Đức Chúa Trời và cũng là chủ đề của Lê-vi ký
    2. Thánh khiết là mạng lệnh đối với mọi người chứ không phải là một sự lựa chọn
    3. Cuộc sống hàng ngày của chúng ta phải phản ánh địa vị của chúng ta ở bên Đấng Cứu thế

4-DÂN SỐ KÝ

  • Tác giả: Môi-se
  • Thời kỳ hình thành sách: trong sa mạc
  • Mục đích: để dân sự biết họ sẽ bị hình phạt nếu không vâng lời Đức Chúa Trời
  • Đối tượng: thế hệ thứ hai trong đức tin
  • Ý chính: hành trình đến sông Giô-đanh
  • Chủ đề chính: ý muốn của Đức Chúa Trời
  • Câu gốc: Dân 23:19-20
  • Phân tích:
    1. Dù có là tuyển dân của Chúa, Ngài cũng không dung thứ nếu họ bất tuân
    2. Vâng lời dẫn đến phước hạnh còn không vâng phục sẽ bị kỷ luật, đó là điều chắn chắn
    3. Chúng ta vẫn chưa hoàn toàn tuân thủ mạng lệnh cụ thể về việc làm chứng về Chúa

5-PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ

  • Tác giả: Môi-se
  • Thời kỳ hình thành sách: tại đồng bằng Mô-áp
  • Mục đích: khuyến cáo thế hệ thứ hai của dân sự đừng đi vào vết xe đổ của tiền nhân
  • Đối tượng: những người sắp phải đối đầu với thách thức thuộc linh
  • Ý chính: ôn lại rồi tái lập
  • Chủ đề chính: Đức Chúa Trời nhân từ
  • Câu gốc: Phục 6:4-5
  • Phân tích:
    1. Thông qua ba bài giảng của Môi-se, chủ đề chính là “Kính mến Đức Chúa Trời và vâng theo mạng lệnh Ngài”
    2. Sự vâng lời thật sự đặt cơ sở trên lòng yêu thương kính mến chứ không ở trên luật pháp
    3. Chúng ta phải nghe, hiểu, thấu triệt và sống thể hiện Lời của Ngài, như thế mới là sự vâng lời thật

6-GIÔ-SUÊ

  • Tác giả: không rõ (Giô-suê?)
  • Thời kỳ hình thành sách: sau cuộc chinh phục đất hứa
  • Mục đích: dạy dân sự rằng an ninh của họ tùy thuộc vào mức độ đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời
  • Đối tượng: những người cần bí quyết đắc thắng trong cuộc chiến thuộc linh
  • Ý chính: giao chiến rồi ổn định
  • Chủ đề chính: quyền hành của Chúa
  • Câu gốc: Giô-suê 1:8
  • Phân tích:
    1. Sách có thể chia làm 4 phần: triệt để thực thi giao ước, triệt để thực hiện công tác, triệt để tin cậy, triệt để tôn thờ
    2. Không triệt để vâng phục Đức Chúa Trời tức là bất phục
    3. Thật dại dột nếu chúng ta chỉ vâng phục Chúa nửa vời

7-CÁC QUAN XÉT

  • Tác giả: không rõ (Sa-mu-ên?)
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc còn hiệp nhất
  • Mục đích: chứng minh cho dân sự rằng họ cần có sự lãnh đạo của Đức Chúa Trời
  • Đối tượng: những người sống trong một xã hội băng hoại đạo đức
  • Ý chính: chu trình của tội lỗi
  • Chủ đề chính: tội lỗi
  • Câu gốc: Các quan xét 21:25
  • Phân tích:
    1. Chủ đề của sách là tội lỗi dù buổi đầu họ vẫn tuân thủ mạng lệnh của Chúa
    2. Chúng ta cần xác định rõ ràng về tội lỗi
    3. Vị quan xét cao quý nhất là Đức Thánh Linh, và Đấng Cứu thế vĩ đại giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi

8-RU-TƠ

  • Tác giả: không rõ (Sa-mu-ên?)
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc còn hiệp nhất
  • Mục đích: để phổ hệ Đa-vít với các tổ tiên của ông là những người trung thành với giao ước
  • Đối tượng: những người cần thấy một gương mẫu về lòng yêu mến và trung thành với giao ước của Chúa
  • Ý chính: trở về ươm tình yêu
  • Chủ đề chính: phước hạnh
  • Câu gốc: Ru-tơ 2:20
  • Phân tích
    1. Chủ đề của sách là phước hạnh, cùng chủ đề với sách Sáng thế ký
    2. Không cần phải giàu có vẫn có thể làm nguồn phước cho người khác
    3. Ru-tơ đem niềm vui đến cho mọi người quanh mình. Dù khó khăn đến đâu, chúng ta vẫn có thể trở nên nguồn phước

9-I SA-MU-ÊN

  • Tác giả: không rõ (Sa-mu-ên? Na-than? Gát?)
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc chia đôi
  • Mục đích: để chứng minh rằng người lãnh đạo phải là người Đức Chúa Trời chọn
  • Đối tượng: những người sống trong thời kỳ khủng hoảng, muốn hiểu biết vai trò của Đức Chúa Trời trong lịch sử
  • Ý chính: Sa-mu-ên và Sau-lơ
  • Chủ đề chính: tình thế khắc nghiệt
  • Câu gốc: ISa 2:30
  • Phân tích:
    1. Bốn nhân vật: Hê-li, Sa-mu-ên, Sau-lơ, Đa-vít. Trong đó Hê-li và Sau-lơ bị loại bỏ, Sa-mu-ên và Đa-vít được tuyển chọn
    2. Bí quyết của năng lực nhằm khắc phục tình thế khắc nghiệt là biết tôn vinh Đức Chúa Trời
    3. Hãy tôn trọng Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ được tôn trọng. Chúng ta tôn trọng Chúa bằng cách tin cậy vào sự cầu nguyện và quyền năng của Đức Chúa Trời

10-II SA-MU-ÊN

  • Tác giả: không rõ (Sa-mu-ên? Na-than? Gát?)
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc chia đôi
  • Mục đích: để chứng minh rằng người lãnh đạo phải là người Đức Chúa Trời chọn
  • Đối tượng: những người sống trong thời kỳ khủng hoảng, muốn hiểu biết vai trò của Đức Chúa Trời trong lịch sử
  • Ý chính: vua Đa-vít (bắt đầu) suy sụp
  • Chủ đề chính: ngôi vua
  • Câu gốc: IISa 22:26-28
  • Phân tích:
    1. Sách xoay quanh Đa-vít với ba chủ đề: Đa-vít thành công, Đa-vít bị trừng phạt, Đa-vít gặp thách thức
    2. Ai đặt Đức Chúa Trời lên ngai lòng mình và cứ tôn Ngài tại đó thì người ấy sẽ được nhận mão miện từ nơi Ngài
    3. I Sa-mu-ên kêu gọi đầu phục vương quyền của Chúa cách hoàn toàn và II Sa-mu-ên kêu gọi đầu phục vương quyền của Ngài cách thường xuyên

11-I CÁC VUA

  • Tác giả: không rõ (Giê-rê-mi?)
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: để giải thích cho tuyển dân hiểu vì sao họ bị lưu đày
  • Đối tượng: những người phạm tội và đang từng trải sự sửa phạt của Chúa
  • Ý chính: Sa-lô-môn, nguyên nhân rạn nứt, phân chia
  • Chủ đề chính: triều đại vua Đa-vít
  • Câu gốc: I Các Vua 18:2
  • Phân tích:
    1. Lời hứa của Chúa dành cho triều đại Đa-vít là lời hứa có điều kiện về sự trung thành “đi trong đường lối Ngài, gìn giữ luật pháp và điều răn Ngài”
    2. Đức Chúa Trời có phải là vị vua duy nhất đang cai trị đời sống của bạn?
    3. Chúng ta có đang đi giẹo hai bên không?

12-II CÁC VUA

  • Tác giả: không rõ (Giê-rê-mi?)
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: để giải thích cho tuyển dân đang sống trong cảnh lưu đày
  • Đối tượng: những người phạm tội và đang gánh chịu hình phạt của Chúa
  • Ý chính: vương quốc rơi vào lưu đày
  • Chủ đề chính: thờ lạy hình tượng
  • Câu gốc: II Các Vua 17:41
  • Phân tích:
    1. Đức Chúa Trời loại bỏ tuyển dân khỏi trước mặt Ngài vì Ngài rất ghét tội lỗi
    2. Hãy loại bỏ các hình tượng của bạn
    3. Cần thận trọng với hình tượng: khi thiếu một điều gì đó mà bạn không thể sống được thì điều đó là hình tượng

13-I SỬ KÝ

  • Tác giả: không rõ (E-xơ-ra?)
  • Thời kỳ hình thành sách: ngay sau thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: nhằm khơi dậy nơi những người bị lưu đày niềm hy vọng là họ sẽ trở về vì Chúa không từ bỏ họ
  • Đối tượng: những người gánh chịu sự sửa phạt của Đức Chúa Trời cần biết Ngài vẫn có một chương trình cho đời sống họ
  • Ý chính: hậu tự của Đa-vít
  • Chủ đề chính: nhà Đa-vít
  • Câu gốc: I Sử ký 17:24
  • Phân tích:
    1. Trong bộ nguyên ngữ Hy Bá Lai, Sử ký I và II là một sách và được đặt ở cuối bộ Kinh Thánh của người Do Thái, là những lời diễn giải và chú thích về những diễn biến đã xảy ra trong cuộc sống của tuyển dân của Chúa
    2. Trong Tân Ước đã có nhắc đến, khi Đức Chúa Trời phục hồi quyền cai trị tuyệt đối của Ngài thì sẽ có dấu hiệu phục hồi mười hai đại tộc Y-sơ-ra-ên, lập lại ngai vua Giu-đa và chính Chúa trở thành đền thờ mới (Khải 21)
    3. Thứ tự ưu tiên trong đời sống: trước hết là vinh danh Chúa và lập vương quốc của Ngài

14-II SỬ KÝ

  • Tác giả: không rõ (E-xơ-ra?)
  • Thời kỳ hình thành sách: ngay sau thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: nhằm khơi dậy niềm hy vọng nơi những người trở về từ lưu đày khi biết Chúa không từ bỏ họ
  • Đối tượng: những người gánh chịu sự sửa phạt của Đức Chúa Trời cần biết Ngài vẫn có một chương trình cho đời sống họ
  • Phân tích:
    1. Nhà của Đức Chúa Trời được nhắc đến qua hình ảnh đền thờ tại Giê-ru-sa-lem (xây dựng, làm ô uế, phá hủy đền thờ)
    2. Sách không kết thúc trong tuyệt vọng mà là hy vọng: hoàng đế Ba Tư ban sắc lệnh cho dân Giu-đa trở về Giê-ru-sa-lem và xây dựng lại đền thờ
    3. Thành công hay thất bại không phải điều quan trọng nhất; sự khiêm nhu hạ mình mới là đáng kể

15-E-XƠ-RA

  • Tác giả: không rõ (E-xơ-ra?)
  • Thời kỳ hình thành sách: sau thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: nhằm khích lệ người Do Thái trở về lập quốc
  • Đối tượng: những người muốn biết phương cách nhận lại ân huệ của Đức Chúa Trời
  • Ý chính: Đền thờ và dân sự
  • Chủ đề chính: nhà Đức Chúa Trời
  • Câu gốc: E-xơ-ra 9:8
  • Phân tích:
    • Sách E-xơ-ra giúp chúng ta hiểu rõ sự ăn năn theo quan điểm của Đức Chúa Trời
    • Ăn năn là một tiến trình, không phải chỉ một lần quyết tâm là đủ. Ăn năn bao gồm quyết tâm lẫn tiến trình phục hồi
    • Hậu quả của tội lỗi vẫn còn đó, chúng ta cần khép mình vào một chương trình học tập cầu nguyện và học Kinh Thánh để chống lại tội lỗi và sự cám dỗ
    • Một người “ăn năn hối cải” có thể tái gia nhập Hội thánh nếu người đó bày tỏ lòng khiêm nhu, kiên trì tham gia vào chương trình học tập làm môn đệ của Chúa

16-NÊ-HÊ-MI

  • Tác giả: không rõ (E-xơ-ra và Nê-hê-mi?)
  • Thời kỳ hình thành sách: sau thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: Đức Chúa Trời nhớ đến những việc làm của người trung thành với Ngài
  • Đối tượng: những người làm công việc Chúa, đang gặp chống nghịch và thu gặt ít kết quả
  • Ý chính: tường thành và luật pháp
  • Chủ đề chính: công việc của Đức Chúa Trời
  • Câu gốc: Nê-hê-mi 13:14
  • Phân tích:
    • Tái thiết tường thành là công việc thuộc thể nặng nhọc nhưng liên quan đến cuộc chiến thuộc linh khi đối diện nhiều cuộc khủng hoảng
    • Học hỏi từ lời cầu nguyện của Nê-hê-mi: xin Chúa nhớ những việc mà kẻ thù nghịch đã làm và xin Ngài cũng nhớ những việc ông đã làm
    • Hãy tiếp tục làm việc nhà Chúa và xin Chúa, chứ không phải xin người khác nhớ đến việc mình đã làm

17-Ê-XƠ-TÊ

  • Tác giả: không rõ (Mạc-đô-chê?)
  • Thời kỳ hình thành sách: sau thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: nhằm cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời luôn che chở bảo vệ dân Ngài dù ở nơi xa xôi hẻo lánh
  • Đối tượng: dân Đức Chúa Trời là một thiểu số bị bắt bớ
  • Ý chính: đế quốc Ba Tư và lễ Phu-rim
  • Chủ đề chính: dân của Đức Chúa Trời
  • Câu gốc: Ê-xơ-tê 4:14
  • Phân tích:
    • Cuộc sống Cơ đốc nhân: nếu bạn yêu mến Đức Chúa Trời và vâng giữ điều răn Ngài, thường thường bạn sẽ bị bức hại (Mạc-đô-chê)
    • Đức Chúa Trời đặt để chúng ta trên đất và cho phép nhiều việc xảy ra. Thế gian này không phải là quê nhà của chúng ta. Dầu trong hoàn cảnh đầy tuyệt vọng, nếu chúng ta can đảm đứng về phía Chúa thì Ngài sẽ cho chúng ta chiến thắng
    • Cánh cửa cơ hội để giúp đỡ dân Chúa không rộng mở mãi mãi. Chúng ta phải (1) kiêng ăn cầu nguyện, (2) lên tiếng và tận dụng cơ hội Chúa ban cho, (3) sẵn sàng hành động tìm ra giải pháp dù phải trả giá

18-GIÓP

  • Tác giả: không rõ (Gióp?)
  • Thời kỳ hình thành sách: không rõ (thời kỳ các tổ phụ?)
  • Mục đích: nhằm cho chúng ta sự khôn ngoan để hiểu ý nghĩa những thử thách trong đời
  • Đối tượng: dân Đức Chúa Trời đang lâm hoạn nạn mà không rõ lý do
  • Ý chính: lâm cảnh khổ đau dưới quyền tể trị của Chúa
  • Chủ đề chính: sự đau khổ
  • Câu gốc: Gióp 13:15
  • Phân tích:
    • Năm phản ứng thường gặp của con người khi gặp khổ đau: (1) kết thúc cuộc đời (vợ Gióp), (2) ăn năn (ba bạn Gióp, (3) cho rằng Chúa Toàn năng đã không quan tâm chăm sóc mình (Gióp), (4) tin rằng Chúa dùng hoạn nạn để dạy chúng ta những bài học quan trọng (Ê-li-hu), (5) hai bài giảng của Đức Chúa Trời bày tỏ cho Gióp thấy ông đã tự phụ, từ đó Gióp nhận ra ông tầm thường chẳng ra chi, không xứng đáng được Chúa chăm sóc và chưa thấu đáo được lẽ công bình của Chúa
    • Khi lâm vào khổ đau, thờ phượng Đức Chúa Trời là chủ trương đúng đắn nhất
    • Câu trả lời tốt nhất: “Tôi không biết vì sao việc này xảy ra nhưng tôi biết Chúa luôn sẵn sàng giúp đỡ và chung chịu nỗi đau khổ”

19-THI THIÊN

  • Tác giả: Đa-vít, A-sáp và nhiều người khác
  • Thời kỳ hình thành sách: từ thời Môi-se đến sau thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: cung cấp cho dân Chúa những bài thánh ca để thờ phượng
  • Đối tượng: dân Đức Chúa Trời khắp mọi nơi, đặc biệt những người đã từng trải thăng trầm trong mối tương giao với Chúa
  • Ý chính: cầu nguyện trong ca ngợi
  • Chủ đề chính: ca ngợi
  • Câu gốc: Thi thiên 111:1
  • Phân tích:
    • Ca ngợi Chúa và kính sợ Ngài trong mọi hoàn cảnh là bí quyết cho trọn đời sống
    • Thi thiên 1-89 chủ yếu miêu tả kinh nghiệm của những người từng trải các cuộc phấn đấu trong đời sống: lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời
    • Thi thiên 90-150 tập trung miêu tả niềm vui của người sống vượt lên trên cảnh ngộ: ca ngợi Đức Chúa Trời
    • Người tin kính Chúa luôn ca ngợi Ngài khi bình an thịnh vượng cũng như khi nghèo nàn hoặc bị bách hại

20-CHÂM NGÔN

  • Tác giả: Sa-lô-môn và nhiều người khác
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc còn thống nhất và đã bị chia đôi
  • Mục đích: chỉ dẫn chúng ta nghệ thuật sống thành công
  • Đối tượng: dân Đức Chúa Trời khắp mọi nơi trong mọi thời đại cần khôn ngoan để tránh những cạm bẫy cuộc đời
  • Ý chính: đường lối của sự khôn ngoan
  • Chủ đề chính: sự khôn ngoan
  • Câu gốc: Châm ngôn 9:10
  • Phân tích:
    • Bí quyết của sự khôn ngoan là kính sợ Đức Giê-hô-va
    • Kính sợ Đức Chúa Trời là triệt để chú trọng đến ý nghĩ và ý kiến của Ngài đối với chúng ta
    • Nếu chúng ta quan tâm đến cảm nghĩ của Chúa hơn là cảm nghĩ của người khác thì sự cám dỗ, cạm bẫy sẽ không còn tác dụng gì trên đời sống chúng ta

21-TRUYỀN ĐẠO

  • Tác giả: Sa-lô-môn
  • Thời kỳ hình thành sách: cuối thời kỳ vương quốc còn thống nhất
  • Mục đích: tìm biết ý nghĩa thật của một cuộc sống dường như vô nghĩa
  • Đối tượng: những người tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống
  • Ý chính: hư không
  • Chủ đề chính: cuộc sống
  • Câu gốc: Truyền đạo 12:13
  • Phân tích:
    • Cuộc sống đầy dẫy nghịch lý cùng thất vọng và không ai được miễn trừ khỏi điều này
    • Kính sợ Chúa là yếu tố khiến chúng ta sống trong thế giới vô nghĩa mà không nản lòng
    • Đừng để những thất vọng trong cuộc sống khiến chúng ta từ bỏ Đức Chúa Trời

22-NHÃ CA

  • Tác giả: Sa-lô-môn
  • Thời kỳ hình thành sách: cuối thời kỳ vương quốc còn thống nhất
  • Mục đích: vui mừng đón nhận món quà tình yêu trong hôn nhân
  • Đối tượng: những người yêu nhau và những người đến mừng hôn lễ
  • Ý chính: Sa-lô-môn và Su-la-mít
  • Chủ đề chính: tình yêu
  • Câu gốc: Nhã ca 8:7
  • Phân tích:
    • Sách gồm ba phần: (1) tình yêu trước ngày cưới, (2) tình yêu trong ngày thành hôn và đêm tân hôn, (3) tình yêu sau tuần trăng mật
    • Ái tình như một bông hoa, cần nở đúng thời điểm của nó. Đóa hoa tình yêu khi đã nở, tình dục chiếm một vị trí quan trọng nhưng đó không phải là tất cả trong tình yêu vợ chồng. Phải tiếp tục tìm hiểu nhau chứ không phải dừng lại sau khi kết hôn
    • Ứng dụng: tình yêu giữa Chúa với Hội thánh được thể hiện qua sự vâng phục, yêu thương và tôn trọng

23-Ê-SAI

  • Tác giả: Ê-sai
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc bị chia đôi
  • Mục đích: lên án tội lỗi và kêu gọi dân tộc ăn năn (1-39), an ủi dân Chúa đang chịu hình phạt và ban cho hy vọng về tương lai (40-66)
  • Đối tượng: dân Chúa đang gặp những nan đề có vẻ như không thể khắc phục
  • Ý chính: gốc đến chồi
  • Chủ đề chính: sự giải cứu
  • Câu gốc: Ê-sai 51:5
  • Phân tích:
    • Chớ nhờ cậy con người nhưng phải nhờ cậy Đức Chúa Trời , sự cứu rỗi chỉ đến từ nơi Chúa
    • Sự giải cứu đến từ Đức Chúa Trời chứ không phải từ thần tượng
    • Hãy tin cậy vào sự công nghĩa của một mình Đức Chúa Trời về vấn đề cứu rỗi đời sống chúng ta

24-GIÊ-RÊ-MI

  • Tác giả: Giê-rê-mi
  • Thời kỳ hình thành sách: trước thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: khuyên dân Do Thái đầu hàng quân Ba-by-lôn như một cử chỉ chấp nhận kỷ luật của Đức Chúa Trời
  • Đối tượng: những người triền miên chống nghịch Chúa đến nỗi Ngài không thể không dùng kỷ luật để sửa đổi họ
  • Ý chính: bình gốm và tay độc tài
  • Chủ đề chính: sự hủy diệt (kỷ luật của Đức Chúa Trời)
  • Câu gốc: Giê-rê-mi 1:10
  • Phân tích:
    • Nếu mắc bệnh mà từ khước sự điều trị của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ chết
    • Nếu chúng ta không chịu ăn năn, Đức Chúa Trời phải đập vỡ để có thể tái tạo chúng ta

25-CA THƯƠNG

  • Tác giả: không rõ (Giê-rê-mi?)
  • Thời kỳ hình thành sách: khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy
  • Mục đích: khóc về tội lỗi của dân Do Thái và thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá
  • Đối tượng: những người đang chịu khổ bởi kỷ luật của Đức Chúa Trời
  • Ý chính: than khóc trước khi trời sáng
  • Chủ đề chính: sự than khóc
  • Câu gốc: Ca thương 3:26
  • Phân tích:
    • Làm thế nào hy vọng trong cảnh khổ đau? Trông mong và chờ đợi sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va
    • Khi bị Đức Chúa Trời hình phạt, niềm hy vọng duy nhất cho chúng ta là tìm đến Ngài
    • Khi gặp đau thương khốn khó, hãy cầu nguyện. Và tiếp tục cầu nguyện cho đến khi hiểu rõ được bản tánh của Đức Chúa Trời

26-Ê-XÊ-CHI-ÊN

  • Tác giả: Ê-xê-chi-ên
  • Thời kỳ hình thành sách: trước và sau sự kiện thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ
  • Mục đích: nêu ra những nguyên nhân khiến vinh quang Chúa rời khỏi dân Do Thái và báo trước rằng Chúa hứa ban vinh quang ấy trở lại
  • Đối tượng: những người ngang bướng bác bỏ lời cảnh cáo của Chúa
  • Ý chính: đế quốc Ba-by-lôn và hài cốt
  • Chủ đề chính: nhận biết Đức Chúa Trời
  • Câu gốc: Ê-xê-chi-ên 39:7
  • Phân tích:
    • Nhận biết và công nhận Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết. Chúa đưa dân sự vào chốn lưu đày để họ không còn làm ô uế danh Ngài
    • Thông qua sự hình phạt của Chúa, cả thế giới sẽ nhận biết Ngài là Đấng thánh khiết
    • Đừng để các thần tượng trong đời sống chúng ta làm ô uế sự thánh khiết của Chúa

27-ĐA-NI-ÊN

  • Tác giả: Đa-ni-ên
  • Thời kỳ hình thành sách: trong suốt thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: bày tỏ chương trình của Chúa đối với lịch sử thế giới suốt thời kỳ thống trị của dân ngoại bang
  • Đối tượng: tuyển dân trung thành của Đức Chúa Trời nôn nóng chờ đợi sự trở lại của Ngài
  • Ý chính: vào hang sư tử trước, đắc thắng sau
  • Chủ đề chính: sự khôn sáng
  • Câu gốc: Đa-ni-ên 12:10
  • Phân tích:
    • Sách Đa-ni-ên dành cho những ai muốn học tập sống gương mẫu giữa một xã hội suy đồi và cho những ai nôn nóng trông chờ Đức Chúa Trời sớm quét sách tình trạng nhũng nhiễu trên thế giới
    • Giải thích khải tượng:
      • Sư tử có cánh tượng trưng cho người Ba-by-lôn
      • Gấu tượng trưng cho người Ba Tư
      • Beo tượng trưng cho người Hy Lạp
      • Con thú không tên tượng trưng cho người La Mã
      • Con Người chỉ đến sau khi các con thú này đã xuất hiện
    • Chúa dùng những tai ương và các con thú hoang trong thời hiện tại và kỳ tương lai nhằm luyện lọc đức tin của chúng ta đối với Ngài
    • Nếu chúng ta quyết tâm làm điều đúng bất chấp giá phải trả thì dù trong bất kỳ cuộc khủng hoảng nào, Chúa cũng sẽ bày tỏ cho chúng ta biết việc Ngài sẽ thực hiện

28-Ô-SÊ

  • Tác giả: Ô-sê
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc bị chia đôi, trong thời gian thành Sa-ma-ri còn tồn tại
  • Mục đích: nhằm thuyết phục dân Do Thái không nên tin vào các “vị cứu nguy” khác mà hãy trung thành với Đức Chúa Trời
  • Đối tượng: dân Chúa đang sa ngã vì họ đã đánh mất tình yêu với Ngài
  • Ý chính: gái mại dâm
  • Chủ đề chính: lòng nhân ái
  • Câu gốc: Ô-sê 14:9
  • Phân tích:
    • Sách Ô-sê làm nổi bật tấm lòng của Đức Chúa Trời, Ngài là một Đức Chúa Trời yêu thương luôn mong muốn thiết lập mối tương giao với chúng ta
    • Dân Do Thái thiếu mất ba điều (1) lòng trung thành, (2) lòng nhân ái, (3) sự hiểu biết Đức Chúa Trời. Đây là ba mỹ đức phản ánh mối liên hệ giữa họ với Chúa
    • Đức Chúa Trời yêu thương nhưng Ngài sẽ không bỏ qua tội lỗi, Ngài phải áp dụng kỷ luật, tuy vậy Ngài vẫn thương xót và chuộc dân Ngài về. Nàng Gô-me tiêu biểu cho dân Do Thái
    • Hãy nhận biết rằng tình yêu của Đức Chúa Trời luôn có kỷ cương

29-GIÔ-ÊN

  • Tác giả: Giô-ên
  • Thời kỳ hình thành sách: không rõ, ngay sau một tai họa
  • Mục đích: nhằm cảnh báo dân Do Thái về sự hình phạt của Đức Chúa Trời sắp giáng trên họ nếu họ không ăn năn
  • Đối tượng: những người vừa mới trải qua một tai họa mà không nhận ra đó là kỷ luật của Chúa
  • Ý chính: tai vạ và lễ Ngũ tuần
  • Chủ đề chính: sự đoán phạt
  • Câu gốc: Giô-ên 2:31-32
  • Phân tích:
    • Chủ đề chính: “Ngày của Chúa”, là thời điểm Chúa sẽ chỉnh đốn lại mọi điều bất công và xét xử con người
    • Chỉ nhờ ăn năn mà con người có thể tránh khỏi ngày hình phạt của Chúa mà thôi

30-A-MỐT

  • Tác giả: A-mốt
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ hưng thịnh tột độ của vương quốc đã bị chia đôi
  • Mục đích: nhằm bộc lộ cơn giận của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi trắng trợn của dân Do Thái
  • Đối tượng: những người tưởng rằng cuộc sống an ninh phồn thịnh đang có là kết quả của sinh hoạt tôn giáo có vẻ sùng đạo của họ
  • Ý chính: dây dọi và dân nghèo
  • Chủ đề chính: sự công bình
  • Câu gốc: A-mốt 5:21
  • Phân tích:
    • Chúng ta phải theo chuẩn mực của Đức Chúa Trời để đánh giá một người có “đạt tiêu chuẩn” hay không
    • Chủ đề sách A-mốt tập trung vào tội bất công đối với người nghèo khó
    • Có thể chúng ta chỉ đủ sức làm cho sự công bình nhỏ xuống từng giọt, nhưng nếu mỗi Cơ đốc nhân đều góp phần nhỏ bé của mình thì sự công bình sẽ cuồn cuộn như dòng nước trào dâng

31-ÁP-ĐIA

  • Tác giả: Áp-đia
  • Thời kỳ hình thành sách: không rõ
  • Mục đích: nhằm tuyên bố bản án của Đức Chúa Trời trên dân Ê-đôm vì đã vui mừng khi dân Do Thái bị hủy diệt
  • Đối tượng: những người chưa tin Chúa có đặc ân nghe sứ điệp của Ngài nhưng không tiếp nhận
  • Ý chính: Ê-đôm chịu đại họa
  • Chủ đề chính: sự hình phạt
  • Câu gốc: Áp-đia câu 15
  • Phân tích:
    • Sứ điệp của Áp-đia rất phù hợp với những người hiểu biết Kinh Thánh nhưng lại chối bỏ dân Chúa và sứ điệp của Ngài
    • Đức Chúa Trời sẽ “thưởng” cho bạn tùy theo cách bạn đã “thưởng” người khác
    • Nếu ai kiêu ngạo nghĩ rằng mình không cần đến Chúa vì bản thân giàu có, an toàn, mạnh mẽ và khôn ngoan, hãy nhớ rằng Chúa ban cho chúng ta những điều đó để nhận biết ân điển của Ngài

32-GIÔ-NA

  • Tác giả: không rõ (Giô-na?)
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc bị chia đôi
  • Mục đích: dạy dân Do Thái về lòng nhân từ của Chúa đối với các dân tộc khác
  • Đối tượng: những ai không (thể) tha thứ cho người đã gây thương tổn cho mình
  • Ý chính: cá và kiêng ăn
  • Chủ đề chính: sự thương xót
  • Câu gốc: Giô-na 4:2
  • Phân tích:
    • Đức Chúa Trời thương xót thủy thủ đoàn, thương xót Giô-na và thương xót dân thành Ni-ni-ve
    • Hãy bày tỏ lòng thương xót của Đức Chúa Trời đối với những con người đắm chìm trong hư mất và tuyệt vọng

33-MI-CHÊ

  • Tác giả: Mi-chê
  • Thời kỳ hình thành sách: thời kỳ vương quốc bị chia đôi, khi thành Sa-ma-ri sụp đổ
  • Mục đích: thúc giục dân sự sống theo chánh đạo để đạt đến sự công bình, chính trực hàng ngày
  • Đối tượng: những người giàu có cho rằng mình biết Đức Chúa Trời nhưng lòng họ xa cách Ngài
  • Ý chính: thành phố của người chăn
  • Chủ đề chính: niềm tin chân chính
  • Câu gốc: Mi-chê 6:8
  • Phân tích:
    • Có ba dấu hiệu cảnh báo về việc của cải có thể làm hỏng niềm tin của chúng ta: (1) của cải khiến kiêu ngạo, (2) của cải khiến không công bình, (3) của cải khiến không thương xót
    • Đặc điểm của niềm tin chân chính không phải là sự giàu có mà là cuộc sống công bình, nhân từ và khiêm tốn trước mặt Chúa

34-NA-HUM

  • Tác giả: Na-hum
  • Thời kỳ hình thành sách: sau khi A-si-ri tàn phá Sa-ma-ri
  • Mục đích: rao báo sự hình phạt sẽ giáng trên dân tộc gian ác đã đàn áp dân Do Thái cách tàn nhẫn độc ác
  • Đối tượng: dân Đức Chúa Trời đang hoặc sẽ chịu đựng sự bắt bớ khốc liệt
  • Ý chính: nước lụt và lửa
  • Chủ đề chính: sự báo trả
  • Câu gốc: Na-hum 1:3
  • Phân tích:
    • Chủ đề của sách Na-hum là sự báo trả
    • Đức Giê-hô-va chậm giận, nhưng Ngài chẳng cầm kẻ có tội là vô tội
    • Đừng lầm tưởng rằng Đức Chúa Trời nhẫn nại là Ngài bất năng

35-HA-BA-CÚC

  • Tác giả: Ha-ba-cúc
  • Thời kỳ hình thành sách: ngay trước thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: lý giải vì sao Đức Chúa Trời có vẻ im lặng và bất công
  • Đối tượng: những người tin kính đang hoang mang bởi sự yên lặng của Đức Chúa Trời và chương trình có vẻ khó hiểu của Ngài trong thế giới hỗn độn
  • Ý chính: đức tin trong nạn đói
  • Chủ đề chính: đức tin
  • Câu gốc: Ha-ba-cúc 2:4
  • Phân tích:
    • Ha-ba-cúc chất vấn trong đức tin và ca ngợi trong đức tin
    • Chúng ta chỉ tin cậy Chúa trong những ngày tươi sáng hay cả trong những ngày đen tối?

36-SÔ-PHÔ-NI

  • Tác giả: Sô-phô-ni
  • Thời kỳ hình thành sách: ngay trước thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: cảnh báo về sự hủy diệt sắp tới đối với tội ác, sự hủy diệt này đến từ Chúa và không ai có thể ngăn chặn
  • Đối tượng: những người liên tục phớt lờ lời cảnh báo về hình phạt của Chúa
  • Ý chính: ngày hủy diệt trước ngày giải cứu
  • Chủ đề chính: cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời
  • Câu gốc: Sô-phô-ni 2:2-3
  • Phân tích:
    • Chủ đề “Ngày của Chúa” trong sách Sô-phô-ni chỉ về sự kiện thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ vào năm 586 TC
    • Phần thứ nhất cho biết đó là ngày hủy diệt, nhưng trong phần thứ hai, đó lại hóa ra ngày giải cứu
    • Nếu ai cứ sống như dân ngoại thì sẽ chết như họ, đừng chờ đợi thông báo cuối cùng của Đức Chúa Trời khi chúng ta chưa ra khỏi thành phố Tội Lỗi vì có thể sẽ bỏ lỡ chuyến bay của Ngài

37-A-GHÊ

  • Tác giả: A-ghê
  • Thời kỳ hình thành sách: sau thời kỳ hồi hương từ chốn lưu đày
  • Mục đích: kêu gọi dân Do Thái ưu tiên cho việc hoàn tất công cuộc tái thiết Đền thờ
  • Đối tượng: dân Chúa lầm đường vì theo đuổi lợi ích cá nhân
  • Ý chính: nhà của sự thánh khiết
  • Chủ đề chính: Đền thờ
  • Câu gốc: A-ghê 1:9
  • Phân tích:
    • Bốn giai đoạn tái thiết: (1) tái thiết với thực lực tự phát, (2) với tinh thần tận hiến, (3) với tinh thần thánh khiết, (4) với tinh thần tin cậy
    • Đừng quên đặt công việc Đức Chúa Trời vào hàng ưu tiên và thực hiện đến khi hoàn tất

38-XA-CHA-RI

  • Tác giả: Xa-cha-ri
  • Thời kỳ hình thành sách: sau thời kỳ hồi hương từ chốn lưu đày
  • Mục đích: thúc đẩy dân sự hoàn tất công cuộc tái thiết Đền thờ và sống tin kính trong niềm hy vọng về sự hiện đến của Đấng Mê-si
  • Đối tượng: những người không nhận biết sự kiện Chúa sẵn sàng tha thứ và phục hồi
  • Ý chính: thầy tế lễ và vua
  • Chủ đề chính: sự phục hồi
  • Câu gốc: Xa-cha-ri 1:3
  • Phân tích:
    • Giê-rê-mi kêu gọi ăn năn dựa trên sự cảnh báo của Chúa về hình phạt, còn Xa-cha-ri kêu gọi ăn năn đặt cơ sở trên tấm lòng sẵn sàng tha thứ và phục hồi của Ngài
    • Chủ đề của sách Xa-cha-ri là quay về với Đức Chúa Trời
    • Chúng ta phải luôn bằng lòng ăn năn vì Chúa luôn sẵn sàng phục hồi đời sống chúng ta

39-MA-LA-CHI

  • Tác giả: Ma-la-chi
  • Thời kỳ hình thành sách: sau thời kỳ lưu đày
  • Mục đích: đánh thức dân Giu-đa đang trong tình trạng mê muội thuộc linh
  • Đối tượng: những người nghĩ rằng mình thiêng liêng và không chịu ăn năn
  • Ý chính: sứ giả của Đấng Mê-si
  • Chủ đề chính: Danh Đức Chúa Trời
  • Câu gốc: Ma-la-chi 3:16
  • Phân tích:
    • Chủ đề sách là Danh của Đức Chúa Trời, nêu lên những hình thức của người không tôn trọng Danh Chúa và của người tôn trọng Danh Ngài
    • Những ai làm ô danh Đức Chúa Trời qua cách theo đạo bề ngoài đều bị rủa sả
Posted in Tóm tắt sách

ICô-rinh-tô, IICô-rinh-tô (Dick Woodwar)

Biên soạn: Dick Woodwar

Nguồn sách: có thể tìm đọc trong VietBible

Chương 1: Bảng tóm tắt khái quát thư thứ nhất Phao-lô gửi cho người Cô-rinh-tô

  • Phần thư dùng để sửa sai (ICô 1:1-11:34)
    • Những vấn đề Phao-lô được biết từ Cơ-lô-ê
      • Vấn đề phân rẽ
      • Vấn đề vô đạo đức
      • Vấn đề các tín hữu kiện tụng nhau
    • Những câu người Cô-rinh-tô hỏi Phao-lô
      • Những câu hỏi về hôn nhân (ICô 7:1-40)
      • Những anh em yếu đuối hơn (ICô 8:1-10:33): Phao-lô đưa ra 3 nguyên tắc:
        • Làm mọi việc vì vinh hiển danh Đức Chúa Trời
        • Làm điều gì đem kết quả cho sự cứu rỗi những người hư mất và gây dựng các anh em yếu đuối
        • Không làm điều gì vì lợi ích riêng mình
      • Vai trò của người nữ trong Hội thánh (ICô 11:1-22)
      • Làm ô uế Tiệc thánh (ICô 11:23-34)
  • Phần gây dựng của thư Cô-rinh-tô (ICô 12:1-16:24)
    • Những ân tứ thuộc linh
    • Sự yêu thương (ICô 13:1-13)
    • Sự sống thuộc thể (ICô 14:1-40)
    • Áp dụng sự Phục sinh (ICô 15:1-58)
    • Áp dụng phẩm chất quản gia (ICô 16:1-24)

PHẦN 1: CHI TIẾT THƯ I CÔ-RINH-TÔ CỦA PHAO-LÔ

Chương 2: Đấng Christ bị phân rẽ ra sao? (ICô 1:1-4:21)

  • Phao-lô bày tỏ chúng ta phải theo Đấng Christ chứ không theo những vị lãnh đạo là con người. Chúng ta không nên tôn vinh con người, mà “Ngài là vinh hiển, hãy quy vinh hiển về cho Ngài”
  • Đừng đề cao việc báp-têm (ICô 1:17)
  • Đừng đề cao sự khôn ngoan đời này (ICô 1:20, 27)
  • Đừng đề cao chức vụ (ICô 2:1-5)
  • Tôn cao Đức Thánh Linh như vị thầy của bạn (ICô 2:9-10)
  • Tán tụng Đức Chúa Trời như là Đấng lãnh đạo của bạn (ICô 3:5-7)

Chương 3: Tình yêu thương đối chất

  • Về sự đoán định lòng người (ICô 4:3-5)
  • Về sự xét đoán hành vi người khác (ICô 5:1-13)
  • Về sự hiểu biết khi cần đối chất (ICô 5:1-13)
  • Về việc có một động cơ đúng đắn

Chương 4: Sách dạy về hôn nhân (ICô 7:1-40)

  • “Về cảnh trạng khốn khổ hiện tại…”
  • “Đừng nên tước đoạt của người khác…”
  • “Đức Chúa Trời đã gọi anh em ăn ở trong sự bình an…”
  • Lăng kính của tình yêu (ICô 7:17, 20, 24)
  • Người độc thân hầu việc Chúa không xao lãng
  • “Điều gì Đức Chúa Trời đã kết hiệp…”

Chương 5: Ba nguyên tắc về việc sống giống như Đấng Christ (ICô 8:1-10:33)

  • Tóm tắt ba nguyên tắc tự do như Đấng Christ: “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm. Đừng làm gương xấu cho người Giu-đa, người Gờ-réc, hay là Hội thánh của Đức Chúa Trời. Hãy như tôi gắng sức đẹp lòng mọi người trong mọi việc, chẳng tìm ích lợi riêng cho mình, nhưng cho phần nhiều người để họ được cứu” (ICô 10:31-33)
  • Áp dụng ba nguyên tắc sống giống như Đấng Christ
  • Mọi việc cho mọi người: trong Đấng Christ chúng ta được tự do để làm mọi điều, nhưng chúng ta phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình ảnh hưởng trên người khác, đặc biệt là những người cùng là thành viên trong thân thể Đấng Christ
  • Hiểu biết vai trò của người nữ trong Hội thánh
  • Thái độ xứng đáng để dự Tiệc thánh: Tiệc thánh là dịp để suy xét tấm lòng trước Chúa, là dịp anh em chia sẻ thông công

PHẦN 2: PHẦN GÂY DỰNG TRONG THƯ

Chương 6: Chức năng của Đức Thánh Linh

  • Quan điểm sai về Đức Thánh Linh
    • Không hiểu biết về Đức Thánh Linh là sai
    • Tôn sùng sự thể hiện rõ rệt của Đức Thánh Linh là sai
    • Cố gắng khởi đầu chức năng nào đó của Đức Thánh Linh cũng là sai
  • Đức Thánh Linh ban cho ân tứ
  • Giải thích sự đa dạng của ân tứ thuộc linh
  • Chức năng của Đức Thánh Linh giống như một thân: mặc dù chúng ta là những người khác nhau với những ân tứ khác nhau, chúng ta thực hiện chức năng vì mục đích chung của từng người (ICô 12:12)
  • Ân tứ thuộc linh không đồng dạng (ICô 12:4)
  • Mỗi Hội thánh có một chức năng (ICô 12:26)
  • Những ân tứ được dành để soi sáng
  • Ba nan đề của các Hội thánh có ân tứ
    • Sự phân biệt, coi khinh phần việc của người khác
    • Sự phân rẽ do bị đánh giá thấp
    • Làm gãy đổ người khác
  • Cách áp dụng

Chương 7: Sự yêu thương là gì? (ICô 13:1-13)

  • Điều quan trọng nhất trong thế gian
  • Tình yêu thương là bền vững
  • Tình yêu thương vô điều kiện
  • Tình yêu thương được cảm thúc
  • Tình yêu thương chẳng hề hư mất

Chương 8: Sự sống lại của các tín hữu (ICô 15:1-58)

  • Phao-lô áp dụng lời dạy về sự sống lại cho các tín hữu bằng lời dạy “hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em chẳng phải là vô ích đâu” (ICô 15:58)
  • Người quản gia trung tín (ICô 16:1-24)

PHẦN 3: THƯ II CÔ-RINH-TÔ CỦA PHAO-LÔ

Chương 9: Những phẩm chất của người chăn bầy (IICô 1:1-6:18)

  • Đào tạo Mục sư (IICô 1:3-4)
  • Nhiệm vụ của Mục sư (IICô 2:14-16)
  • Động cơ nào thúc đẩy? (IICô 5:13-6:1,2) Tình yêu thương của Đấng Christ và sự kêu gọi ông vào chức vụ là trọng tâm của đời sống
  • Ba điều tuyệt đối của Phao-lô
    • Chính Đấng Christ chết vì mọi người
    • Tất cả mọi người đều bị hư mất
    • Mọi người đều cần nghe sứ điệp Tin Lành
  • Mức độ quan hệ tình cảm với Đấng Christ theo ba cách: qua Đấng Christ, trong Đấng Christ và vì Đấng Christ

Chương 10: Tính trong sáng của Mục sư

  • Chúng ta quan niệm thế nào về đời sống mình? (IICô 4:7, 10)
  • Lò thử luyện (IICô 6:4-5)

Chương 11: Tính siêu việt của người mang chức vụ kinh nghiệm trên đường Đa-mách

  • Từng trải ở sa mạc Ả Rập nơi Chúa đã dạy dỗ Phao-lô
  • Từng trải siêu phàm được đưa đến từng trời thứ ba (IICô 12:1-21)
  • Viễn cảnh thiên đàng (IICô 12:15-19)
  • Quan điểm khiêm nhường (IICô 10:10; 12:1-21)

Chương 12: Phước hạnh của sự ban cho (IICô 8:1-9:15)

  • Phẩm chất của người quản gia trung tín
  • Khả năng liên quan đến người quản gia trung tín
  • Sự quân bình của người quản gia trung tín
Posted in Tóm tắt sách

Giới Thiệu Các Sách Phúc Âm & Khảo Cứu Ma-thi-ơ (Dick Woodwar)

Biên soạn sách: Dick Woodwar

Nguồn sách: Hội Hợp tác Truyền giáo quốc tế Trường Cao đẳng Thánh Kinh

PHẦN I: GIỚI THIỆU CÁC SÁCH PHÚC ÂM

Chương 1: Những quyển sách hay nhất trong Kinh Thánh

  • Các sách Phúc âm Cộng Quan
    • Ba sách Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca có nhiều điểm tương đồng nên được gọi là “Các sách Tin Lành Cộng Quan”
    • Khoảng chín mươi phần trăm nội dung sách Phúc âm Giăng không tìm thấy trong ba sách đầu nên sách này được nghiên cứu riêng rẽ, độc lập
  • Chìa khóa để mở Kinh Thánh: toàn bộ Kinh Thánh đều nói về Chúa Jesus
  • Điều mà tất cả các sách Phúc Âm đều nói đến: Chúa Jesus Christ chính là Sự Mặc Khải vĩ đại nhất về lẽ thật mà Đức Chúa Trời ban cho thế gian. Tất cả những gì Chúa Jesus thể hiện, mọi việc Ngài làm, và mọi lời Ngài nói thảy đều “giải thích” về Đức Chúa Trời

Chương 2: Những lời tuyên bố về sứ mệnh của Chúa Jesus

  • Mục đích sống: Hy sinh Cứu rỗi
  • Cuộc đời Đấng Christ: Bốn sách Phúc âm có 89 chương
    • 4 chương nói về sự Giáng Sinh và ba mươi năm đầu của cuộc đời Chúa Jesus
    • 85 chương nói về ba năm cuối cùng của Ngài trên đất, trong đó có:
      • 27 chương đề cập đến tuần lễ sau cùng
      • 58 chương đề cập đến chức vụ dạy dỗ, chữa bệnh và huấn luyện môn đồ
  • Sứ mệnh ưu tiên hàng đầu của Chúa Jesus: Chiên Con của Đức Chúa Trời để cứu chúng ta khỏi tội lỗi
  • Chúa Jesus có thêm hai mục tiêu sứ mệnh: Phép lạ và Chữa lành
  • Sứ điệp của Chúa Jesus:
    • Đường đi: Ngài là con đường dẫn đến Đức Chúa Trời
    • Lẽ thật: nói đến chức vụ rao giảng và sự dạy dỗ của Ngài
    • Sự sống: Ngài ngụ ý về các phép lạ, kể cả việc ban cho sự sống đời đời và thay đổi cuộc đời của mỗi Cơ đốc nhân

PHẦN II: KHẢO CỨU PHÚC ÂM MA-THI-Ơ

Chương 3: Chiến lược của Chúa Jesus

  • Kêu gọi
  • Huấn luyện
  • Sai phái

Chương 4: Những sự kiện quan trọng trong cuộc đời Đấng Christ

  • Chúa Jesus chịu báp-têm
  • Chúa Jesus bị cám dỗ
  • Bài học:
    • Bản chất của sự cám dỗ là “hãy đặt nhu cầu thể xác của bạn lên hàng đầu và điều Đức Chúa Trời muốn bạn làm ở hàng thứ hai”
    • Sự cám dỗ không phải là tội lỗi, song cách chúng ta đáp lại sự cám dỗ sẽ khiến chúng ta chiến thắng nó hoặc phạm tội
    • Phản ứng của chúng ta để chống lại sự cám dỗ: “Chúa là trên hết!”

Chương 5: Bài giảng vĩ đại nhất của Chúa Jesus

  • Bài giảng trên núi là bản tóm tắt ngắn gọn về đạo đức của toàn bộ Kinh Thánh
  • Văn mạch của bài giảng: “Bạn là một phần của nan đề hay bạn muốn là một phần trong việc giải quyết nan đề?”
  • Nội dung bài giảng – Các phước lành (Ma-thi-ơ 5:3-12)
    • Bốn phước lành đầu tiên là thái độ chúng ta cần học để đến với Đức Chúa Trời
    • Bốn phước lành tiếp theo là thái độ chúng ta cần học để ra đi cho Chúa

Chương 6: Ứng dụng bài giảng

  • Các ngươi là muối của đất
  • Các ngươi là sự sáng của thế gian
  • Các ngươi là ngọn đèn đặt trên chân đèn
  • Các ngươi là thành phố trên đồi cao
  • Nguyên tắc xử thế cao nhất: đừng chống cự kẻ ác và hãy yêu kẻ thù

Chương 7: Ba viễn cảnh của cuộc sống

  • Hãy nhìn vào chính mình và tự xét
  • Hãy nhìn lên Chúa với sự bền chí
  • Hãy nhìn quanh và đặt mình vào vị trí của mỗi người chúng ta gặp gỡ

Chương 8: Nhiệm vụ được giao

  • Làm quen với 12 sứ đồ
  • Công việc được giao

Chương 9: Những ẩn dụ của Chúa Jesus trong sách Ma-thi-ơ

  • Ẩn dụ về người gieo giống/hạt giống/các loại đất
  • Ẩn dụ về lúa mì và cỏ lùng (Ma-thi-ơ 13)
  • Ẩn dụ về hạt cải và men (Ma-thi-ơ 13)
  • Ẩn dụ về của báu và châu ngọc (Ma-thi-ơ 13)
  • Ẩn dụ về sự tha thứ (Ma-thi-ơ 18)
  • Ẩn dụ về kết quả và công việc (Ma-thi-ơ 21)
  • Ẩn dụ về Chúa Nhật khải hoàn (Ma-thi-ơ 21)
  • Phương pháp tiếp cận các ẩn dụ của Chúa Jesus:
    • Một ẩn dụ chỉ có một cách giải thích đúng nhưng có nhiều ứng dụng
    • Cần phải luôn đặt câu hỏi: “Chúa muốn ứng dụng điều gì trên đời sống, trên gia đình và trên Hội thánh của tôi?”

Chương 10: Những sự dạy dỗ quý báu của Chúa Jesus trong sách Ma-thi-ơ

  • Lời mời gọi (Ma-thi-ơ 11:28-30)
  • Nước thiên đàng trở thành Hội thánh (Ma-thi-ơ 16:13-23)
  • Triết lý về sự lãnh đạo của Chúa Jesus (Ma-thi-ơ 23:1-12): Phục vụ và Khiêm nhường
  • Bài giảng trên núi Ô-li-ve (Ma-thi-ơ 24-25)
    • Sự tái lâm của Chúa là một chuỗi nhiều biến cố
    • Các điềm báo: thời tiết xấu, chiến tranh giặc giã, đói kém, sự bội đạo…
    • Ứng dụng: khi Chúa đến, Ngài sẽ xét đoán từng cái đèn dầu rỗng, từng bàn tay không, từng tấm lòng trống rỗng

Chương 11: Cơn khủng hoảng cực độ của Chúa Jesus

  • Bữa tiệc của Chúa (Ma-thi-ơ 26:17-35)
  • Lời cầu nguyện của Chúa (Ma-thi-ơ 26:38-39)
  • Sự chết của Chúa (Ma-thi-ơ 27:11-34)
  • Sự Phục sinh của Chúa (Ma-thi-ơ 28:1-15)
  • Đại mạng lệnh (Ma-thi-ơ 28:18-20)