Posted in Tóm tắt sách

A-ghê

Nguồn: VietBible

I. NHẬP ĐỀ

I.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

  • Do từ bỏ Đức Chúa Trời, thờ hình tượng và từ chối ăn năn, dân Y-sơ-ra-ên phải nhận lấy hình phạt lưu đày.
  • Vương quốc Y-sơ-ra-ên phía bắc gồm 10 chi phái sụp đổ dưới tay đế quốc Asyri năm 722 TC. Họ bị lưu đày và chưa hề trở về xứ sở từ đó.
  • Vương quốc Giu-đa phía nam tồn tại được thêm 136 năm, sụp đổ dưới tay đế quốc Babylôn năm 586 TC, dân sự bị lưu đày.
  • Đế quốc Babylôn sụp đổ dưới tay Siru (Cyrus), vua Ba Tư vào năm 539 TC. Một thời gian ngắn sau khi cầm quyền, vua Siru ra chiếu chỉ cho phép dân Do Thái hồi hương.
  • Có 3 cuộc hồi hương quan trọng:
    • Lần 1: khoảng 538/537 TC (E-xơ-ra 1:1) dưới sự lãnh đạo của Xô-rô-ba-bên.
    • Lần 2: khoảng 458 TC (80 năm sau) (E-xơ-ra 7:7) dưới sự lãnh đạo của E-xơ-ra.
    • Lần 3: khoảng 445 TC (13 năm sau) (Nê-hê-mi 2:1) dưới sự lãnh đạo của Nê-hê-mi.
  • Hai lần hồi hương sau xảy ra dưới thời hoàng đế Artaxerxes Longimanus.
  • Chiếu chỉ cho phép hồi hương của vua Siru đã được ghi lại hai lần trong sách E-xơ-ra (1:2-4; 6:3-5), theo đó đền thờ Giê-ru-sa-lem sẽ được xây lại do ngân sách vua Siru đài thọ. Có lẽ Đa-ni-ên cũng có góp ý trong việc soạn thảo chiếu chỉ này (Đa-ni-ên ở Babylôn đến 535 TC).
  • Số người hồi hương lần đầu dưới sự lãnh đạo của Xô-rô-ba-bên gồm 42.360 người cùng với 7.337 tôi tớ của họ. Họ quay về Palestine và định cư tại Giê-ru-sa-lem và các thành phố phụ cận như Bết-lê-hem, Bê-tên, A-na-tốt, Ga-ba-ôn cùng một số nơi khác (E-xơ-ra 3:2).
  • Việc đầu tiên khi về đến Giê-ru-sa-lem là họ dựng bàn thờ của lễ thiêu và tái lập sự thờ phượng (tháng 7 năm đầu tiên).
  • Năm thứ nhì việc xây nền móng đền thờ được khởi công (E-xơ-ra 3:8).
  • Những trở ngại ập đến:
    • Người Sa-ma-ri ở phía bắc gây khó khăn sau khi bị từ chối đề nghị giúp đỡ (E-xơ-ra 4:1-5, IIVua 17:24-41).
    • Dân hồi hương mất đi lòng nhiệt thành với Chúa, bắt đầu nghĩ đến phúc lợi riêng mình (A-ghê 1:3-11).
  • Kết quả: công việc nhà Chúa bị trì trệ suốt 16 năm đến năm thứ hai đời trị vì hoàng đế Đa-ri-út. Đức Chúa Trời đã kêu gọi A-ghê vào công tác động viên tinh thần dân tộc.

I.2. TIÊN TRI A-GHÊ

  • A-ghê là tiên tri thời kỳ hậu lưu đày đã cùng một số dân Do Thái quay về Giê-ru-sa-lem trong lần hồi hương thứ nhất (537 TC).
  • Ông được kêu gọi nói tiên tri năm 529 TC (năm thứ nhì đời vua Đa-ri-út).
  • Thời gian nói tiên tri của ông kéo dài trong 4 tháng, với 4 sứ điệp với ngày tháng công bố:
    • Mồng 1 tháng 6 (khoảng tháng 8-9).
    • Ngày 21 tháng 7 (khoảng tháng 9-10).
    • Ngày 24 tháng 9 (khoảng tháng 11-12).
    • Ngày 24 tháng 9 (khoảng tháng 11-12).

I.3. SÁCH A-GHÊ

  • Mục đích Đức Chúa Trời cho phép dân Do Thái hồi hương là xây dựng lại đền thờ, tái lập sự thờ phượng và dốc lòng đi theo đường lối của Chúa. Việc xây dựng lại đền thờ là hành động đẹp lòng Chúa, còn việc bỏ dở công tác này là điều sai quấy trước mặt Ngài.
  • Việc để đền thờ hoang phế khi dân sự đã hồi hương được xem là nghiêm trọng hơn nhiều so với lúc họ còn ở chốn lưu đày. Vì họ không có lý do nào bào chữa cho việc mình đã quay về nhưng đền thờ Chúa vẫn hoang phế. Nền móng được xây dựng rồi trì trệ khiến các dân tộc xung quanh nghĩ rằng dân sự Chúa xem nhẹ Ngài.
  • Trong sứ điệp đầu tiên, Lời Chúa đã nhắc đến lý do này (A-ghê 1:1-11).
    • A-ghê quở trách họ đã bỏ những ràng buộc thuộc linh để chăm lo lợi riêng.
    • Khi một người xao lãng thực hiện những ràng buộc của Chúa trước, tất cả những gì người ấy làm đều sẽ không thạnh vượng.
    • A-ghê đã kết thúc sứ điệp này bằng sự kiện lịch sử được xem là kết quả của sứ điệp: dân sự từ người lãnh đạo hành chính đến người lãnh đạo tôn giáo và toàn dân hồi hương đã ăn năn, đứng dậy tiếp tục công việc xây dựng đền thờ (A-ghê 1:12-15).
  • Sứ điệp thứ nhì nhằm khuyến khích Xô-rô-ba-bên và Giê-hô-sua, hai nhà lãnh đạo cùng dân sự cứ kiên trì tiến hành công việc, với niềm tin mạnh mẽ rằng Đức Chúa Trời giúp họ hoàn thành công tác dường như quá sức với họ.
  • Sứ điệp thứ ba cảnh cáo dân sự rằng Đức Chúa Trời không phải chỉ muốn họ xây lại đền thờ hay dâng của lễ theo nghi thức, nhưng điều Ngài mong đợi hơn ấy là mối tương giao đúng đắn và mật thiết từ tấm lòng của họ đối với Ngài.
  • Sứ điệp thứ tư nói về một ngày trong tương lai khi Đức Chúa Trời sẽ phá hủy tất cả để thiết lập vương quốc vinh hiển của Ngài.

I.4. BỐ CỤC

  • Bố cục tổng quát theo ý nghĩa các sứ điệp:
    1. Xao lãng việc xây dựng đền thờ đem lại sự suy thoái (1:1-15).
    2. Sứ điệp khích lệ (2:1-9).
    3. Sự vâng lời quan trọng hơn của tế lễ (2:10-19).
    4. Vương quốc của Đức Chúa Trời được thiết lập.
  • Bố cục chi tiết:
    1. Sứ điệp đầu tiên – Kêu gọi xây dựng lại đền thờ (1:1-15).
      • Quở trách sự thờ ơ của dân sự (1:1-4).
      • Sự sửa phạt của Đức Chúa Trời (1:5-6).
      • Kêu gọi quay lại việc xây dựng (1:7-11).
      • Kết quả lời kêu gọi (1:12-15).
    2. Sứ điệp thứ nhì – Vinh quang của đền thờ tương lai (2:1-9).
      • Khích lệ dân sự trước những khó khăn (2:1-5).
      • Vinh quang của đền thờ (2:6-9).
    3. Sứ điệp thứ ba – Sự vâng lời đem đến phước hạnh (2:10-19).
      • Tính chất truyền nhiễm của tội lỗi (2:10-13).
      • Sự vâng lời có giới hạn chưa đủ (2:14).
      • Không vâng lời – căn bản của sự sửa phạt (2:15-17).
      • Vâng lời – căn bản của phước hạnh (2:18-19).
    4. Sứ điệp thứ tư – Vương quốc vinh hiển.
      • Dự ngôn về sự sụp đổ của các vương quốc dân ngoại (2:20-22).
      • Dự ngôn về sự phục hồi ngôi Đa-vít.

I.5. ỨNG DỤNG TỔNG QUÁT

  • Tác dụng mạnh mẽ của Lời Đức Chúa Trời trong mọi sứ điệp.
  • Tính chất truyền nhiễm của tội trì hoãn
  • Niềm hy vọng về Đấng Mêsia.

II. GIẢI THÍCH

KÊU GỌI XÂY DỰNG LẠI ĐỀN THỜ (A-ghê 1:1-15)

  1. Quở trách sự thờ ơ của dân sự (1:1-4)
    • Thời gian công bố sứ điệp: ngày 1 tháng 6 năm 520 TC (năm thứ hai đời trị vì của vua Đa-ri-út). Đa-ri-út được đề cập là Darius Hystapes hoàng đế Ba Tư, trị vì từ năm 521 TC đến 486 TC.
    • Những đối tượng nhận sứ điệp:
      • Xô-rô-ba-bên, người lãnh đạo dân sự.
      • Giê-hô-sua, người lãnh đạo tôn giáo.
      • Họ đại diện trực tiếp cho dân sự để tiếp thu Lời Chúa.
    • Lý do dẫn đến việc công bố sứ điệp:
      • Sự ích kỷ của dân sự: ích kỷ là một cản trở lớn cho việc lo tưởng đến công việc của Đức Chúa Trời và dẫn đến sự suy thoái tâm linh (Ê-sai 5:8, 12). Ích kỷ là sống cho mình, phục vụ chính mình, biệt lập khỏi lợi ích của người xung quanh cũng như của Đức Chúa Trời.
      • Sự sợ hãi của dân sự: dân sự có lý do để sợ (các dân tộc chung quanh gây rối) nhưng sự sợ hãi lớn nhất phát sinh từ lòng ích kỷ. Kẻ thù nghịch không cản trợ họ xây nhà riêng mà chỉ cản trở việc xây dựng đền thờ Chúa, họ sợ nhà cửa và của cải bị phá hủy nếu họ tiếp tục xây dựng đền thờ.
      • Phỏng đoán thì giờ: dân sự không từ chối tham gia công việc nhưng họ chần chờ, họ chỉ muốn tham gia khi hoàn cảnh thuận lợi, chờ đến “ngày mai tươi sáng hơn”. Satan vô cùng khôn ngoan khi gieo rắc tinh thần “để mai” vào lòng chúng ta. Đáng buồn là với nhiều người, điều họ gọi là ngày mai không bao giờ đến nữa.
  2. Sự sửa phạt của Đức Chúa Trời (1:5-7)
    • Hãy xem xét lại đường lối:
      • Đường lối bao gồm thái độ, cách cư xử và kết quả của nó.
      • “Hãy xem xét đường lối mình” là một mạng lệnh cần thiết cho mỗi Cơ đốc nhân, đặc biệt khi đứng trước khó khăn. Nếu đó là điều phát sinh từ những việc làm sai quấy thì chúng ta cần phải xưng tội và ăn năn. Nếu chúng ta xét thấy đường lối mình là ngay thẳng, những khó khăn đó là thử nghiệm để nâng cao đời sống tâm linh và cần cầu nguyện xin Chúa giúp sức để có thể vui trong nghịch cảnh.
      • Đứng trước một lựa chọn, phải xem xét điều đó có đẹp lòng Chúa, sáng danh Chúa, có ích lợi cho việc nhà Chúa.
      • Phải xem xét đường lối đã qua để ăn năn và cảm tạ. Phải nhờ Thánh Linh xem xét đường lối mình đang tiến tới để khỏi bị vấp ngã.
    • Tai họa (1:7)
      • Tai họa xảy đến khi dân sự không vâng lời, chống lại ý Chúa.
      • Tai họa xảy đến trên đất đai ruộng vườn, trên chính con người, trên của cải. Khi con người chỉ chú tâm đến lợi ích chính mình, cuối cùng sẽ mất tất cả, nếu không cẩn thận có thể mất cả linh hồn.
  3. Kêu gọi tái tục việc xây dựng (1:8-11)
    • Hình thức dù thường được xem là phần không quan trọng nhưng sự vâng phục và tình yêu cần phải có hình thức để bày tỏ. Đền thờ có thể không đáng giá về vật chất nhưng là bằng chứng bày tỏ sự yêu mến và vâng phục Chúa của dân sự.
    • Với Đức Chúa Trời, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ, sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực. Ngài không đòi hỏi dân sự vâng lời để làm khổ họ nhưng để mang họ ra khỏi cảnh khổ và được Ngài ban phước dồi dào.
    • Mỗi Cơ đốc nhân là đền thờ của Chúa ngự (ICo 3:16, 17). Chúng ta đang xây cất, chăm sóc đền thờ tâm linh của mình như thế nào? Đang tích cực xây dựng hay đang bỏ phế?

III. SỨ ĐIỆP THỨ NHÌ: VINH QUANG CỦA ĐỀN THỜ TƯƠNG LAI

Sau 16 năm dân sự bê trễ, lời kêu gọi được đưa ra ngày 1 tháng 6, đến ngày 24 tháng 6 dân sự đồng loạt hưởng ứng. Công việc thuận lợi trong khoảng 4 tuần lễ thì khó khăn lại ập đến làm suy giảm tinh thần mọi người. Sứ điệp thứ hai đã được công bố để khích lệ dân sự.

III.1. KHÍCH LỆ DÂN SỰ TRƯỚC NHỮNG KHÓ KHĂN (A-ghê 2:1-5)

  1. Khó khăn tinh thần:
    • Các dân chung quanh vẫn luôn tạo khó khăn bằng nhiều phương cách để gây lo lắng sợ hãi cho dân Chúa nhằm khiến họ chùn bước. Nhưng nghịch cảnh bên ngoài luôn có thể bị tan biến hay giảm thiểu bởi sự đoàn kết, hiệp một từ bên trong. Còn khó khăn bên trong nếu không giải quyết được có thể gây tan rã tập thể cách dễ dàng.
    • Khó khăn tinh thần ở đây (A-ghê 2:3, E-xơ-ra 3:12) là tiếng khóc xuất phát từ sự so sánh, thất vọng vì đền thờ không được xây cất nguy nga như họ nghĩ. Sự so sánh luôn có hai mặt tiêu cực (nhằm mục đích hơn thua) và tích cực (với tinh thần trình bày vấn đề để cầu xin sự thương xót của Chúa).
    • Câu hỏi trong phần cuối câu 3 là một lời khích lệ cho những ai đang góp phần trong công tác nhà Chúa. Vì trước mắt họ thì “như là hư không”, nhưng đối với Chúa thì không như vậy. Ngài nhìn vào tấm lòng của từng người và đó là điều có giá trị chứ không phải lớp vỏ bên ngoài.
    • Ngài nhìn thấy tấm lòng, và Ngài bước vào kêu gọi đích danh từng người hãy can đảm. Đây là lời đảm bảo hết sức riêng tư của Chúa dành cho từng cá nhân một.
  2. Khó khăn vật chất:
    • Tiền bạc và sự thiếu thốn luôn là nan đề ngay từ lúc bắt đầu. Nhưng Chúa phán: “Bạc là của ta, vàng là của ta” (2:8).
    • Đức tin của dân Chúa giúp mở từ cánh cửa này đến cánh cửa kia để bước vào kho tàng vô tận của Đức Chúa Trời. Không có một công trình nào bị bỏ dở khi dân sự hoàn toàn đặt niềm tin nơi Ngài và thuận phục ý chỉ của Ngài.
    • Đức tin dẫn đến kho tàng của Chúa, đồng thời trách nhiệm quản lý ràng buộc mỗi người phải hết sức trung tín đối với những gì được giao. Nếu không cẩn thận, chúng ta có thể bị cám dỗ dùng sai hoặc bất trung với tiền bạc Chúa đã ủy thác qua Hội thánh của Ngài.

III.2. VINH QUANG CỦA ĐỀN THỜ (2:6-9)

  1. Các nước bị rúng động:
    • Một trong những đặc điểm của nơi thờ phượng Chúa là vinh quang của Đức Chúa Trời bao phủ.
    • Ngoài sự vinh quang do sự hiện diện của Chúa, đền thờ còn được Chúa cho hưởng vinh quang từ nhiều hướng khác nữa. Việc xây cất lại đền thờ Giê-ru-sa-lem và tái lập sự thờ phượng không chỉ một số dân tộc chung quanh xứ Do Thái biết mà mọi dân mọi nước trong đế quốc Ba Tư đều biết (E-xơ-ra 4-6), tài lực được hoàng đế và triều đình đại diện cho toàn thế giới đương thời đóng góp (E-xơ-ra 6:8-10). Điều này làm chấn động các nước và đây là sự vinh quang của đền thờ.
  2. Vinh quang sau sẽ lớn hơn (2:9)
    • Theo lời hứa của Chúa, vinh quang của đền thờ thứ hai sẽ lớn hơn vinh quang trước. Vinh quang này không tỏa sáng bởi hình thức bên ngoài nhưng chiếu sáng từ tâm linh.
    • Đền thờ thứ nhất có vẻ ngoài đẹp đẽ nhưng các vua Giu-đa đã mang hình tượng vào khiến đền thờ bị ô uế dẫn đến chỗ bị phá hủy. Đền thờ thứ hai bề ngoài đơn sơ nhưng không bị ô uế, được Chúa ngự trị.
    • Đền thờ thứ nhất xây bởi sức người, đền thờ thứ hai được xây dựng bởi năng lực và sự thương xót của Chúa.
    • Sự bình an Đức Chúa Trời hứa ban cho đền thờ thứ hai vượt trội hơn đền thờ trước, vì đền thờ sau xây dựng giữa muôn vàn khó khăn.

IV. SỨ ĐIỆP THỨ BA: SỨ ĐIỆP VỀ SỰ ĐẢM BẢO

Sau khi quyết tâm xây dựng lại đền thờ, dân sự trải qua gần ba tháng lao động mệt nhọc với nhiều khó khăn nhưng vẫn chưa thấy một kết quả vật chất cụ thể nào nên họ tỏ ra thối chí nản lòng. Trước tình trạng này, Đức Chúa Trời lại sai A-ghê mang đến cho họ sứ điệp thứ ba – sứ điệp về sự bảo đảm của Chúa.

IV.1. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THÁNH KHIẾT (2:12)

  • Câu hỏi thứ nhất của A-ghê liên quan đến sự thánh khiết. Theo Lê-vi 6:27, sự thánh khiết có thể truyền đạt từ vật thánh đến vật trực tiếp tiếp xúc và không thể đi xa hơn được. Sự thánh khiết chỉ ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn đến vật tiếp xúc.
  • Chỉ có của lễ chuộc tội mới có tác dụng thánh hóa những ai chạm đến hay tiếp xúc với nó. Nói cách khác, chỉ có sự tha tội mới khiến con người nên thánh và Đấng thực hiện sự tha tội cùng thánh hóa là Chúa Jêsus (Giăng 1:29). Những ai muốn được chuộc tội và thánh hóa phải trực tiếp tiếp xúc với Chúa.
  • Như thịt thánh gói trong chéo áo làm cho chéo áo nên thánh, nhưng chéo áo không làm cho các vật khác nên thánh được. Cũng như vậy, dù Đức Chúa Trời đã thánh hóa đất của Ngài thì đất đó cũng không làm cho những hạt giống, cây trồng của dân sự trở nên thánh và mang đến kết quả tốt như họ mong đợi. Hạt giống và cây trồng của họ chỉ được kết quả tốt khi Đức Chúa Trời trực tiếp ban phước cho.

IV.2. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ Ô UẾ (2:13)

  • Câu hỏi thứ hai của A-ghê liên quan đến sự ô uế. Sự ô uế không những có phản ứng dây chuyền trên người hoặc trên đồ vật nào người bị ô uế đụng đến mà còn có ảnh hưởng đến đền tạm của Chúa. Sự ô uế không hẳn do việc người bị ô uế bước vào nơi thờ phượng, nhưng sự hiện diện của họ giữa dân tộc được gọi là thánh ở nơi có đền thánh của Chúa cũng bị xem là góp phần làm ô uế nhà của Đức Chúa Trời.
  • Tiên tri A-ghê muốn chỉ cho dân sự biết rằng họ đã bị xem là ô uế trước mặt Chúa vì:
    • Đã bỏ phế việc xây dựng lại đền thờ Chúa.
    • Đã làm dơ nhớp đời sống mình bởi sự xao nhãng bổn phận với Đức Chúa Trời.
    • Đã làm cho đời sống mất đi sự thanh sạch vì không vâng lời Chúa.
  • Chính sự ô uế này đã ảnh hưởng đến tất cả những gì họ chạm đến, những gì họ gieo trồng và ngay cả của lễ. Sự ô uế khiến phước hạnh của Chúa bị rút lại và tai họa đổ xuống (2:15-19).
  • Dầu vậy, khi dân Chúa quay lại với Ngài cách thật lòng, xây sửa lại đền thờ với mục đích tôn vinh Chúa thì phước hạnh sẽ tuôn đổ xuống ngay.
  • Bất cứ khi nào chúng ta có ý phàn nàn tại sao mình làm công việc nhiều mà phước hạnh ít, việc đầu tiên cần suy xét là động lực làm việc của chúng ta: đó là tinh thần trao đổi hay tinh thần yêu mến và biết ơn Chúa, chờ đợi nơi lòng nhân từ rộng rãi của Chúa (xem ví dụ về người làm công trong vườn nho ở Ma-thi-ơ 20:1-16).
  • Lời Chúa trong ICo 15:58 kêu gọi “Hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn”. Những ai làm việc cách dư dật thì chắc chắn sẽ nghe tiếng Chúa phán: “Từ ngày nầy (ngày Chúa thấy tinh thần đó bắt đầu xuất hiện nơi chúng ta), ta sẽ ban phước cho các ngươi” (A-ghê 2:19c).

V. SỨ ĐIỆP THỨ TƯ: VƯƠNG QUỐC VINH HIỂN (A-ghê 2:20-23)

Giống như phần lớn các sứ điệp tiên tri, A-ghê kết thúc bằng lời hứa liên quan đến sự trị vì của Đấng Mêsia vĩ đại thuộc dòng vua Đa-vít.

Lời hứa này cho đến bây giờ vẫn chưa được ứng nghiệm nhưng chắc chắn sẽ được ứng nghiệm trong chính Chúa Jêsus Christ, Đấng sẽ trở lại và cầm mọi quyền bính trong tay.

Để có thể nghênh đón Chúa hồi lai, mọi đền thờ tâm linh được gọi kêu xây dựng lại, sửa sang lại, làm cho sạch sẽ để thích ứng làm chỗ ngự của Ngài.

Posted in Tĩnh nguyện

Don’t repeat the hurt – let it go!

By Rick Warren – Source: nhulieuthanhkinh.com

“Whenever you pray, forgive anything you have against anyone. Then your Father in heaven will forgive your failures.”  Mark 11:2 (GW)

When people hurt us, we have two natural tendencies: to remember and to retaliate.

But that’s not what 1 Corinthians 13:5 tells us to do: “Love does not count up wrongs that have been done” (NCV).

So how should you respond to the people who have hurt you? How do you handle all of those wounds and hurts that you’ve stockpiled in your memory?

Don’t repeat them. Instead, delete them. Let the hurts go. Forgive, and get on with your life.

When we get hurt, we tend to repeat that hurt in three ways: emotionally in our minds, relationally as a weapon, and practically by telling other people.

First, we repeat it by going over and over it in our mind. But resentment is self-destructive. It only perpetuates the pain. It never heals; it never solves anything. Whatever you think about most is what you move toward. If all you think about is how much you’ve been hurt in the past, then you’ll only move toward the past. But if you focus on the future, then you’ll move toward the future. If you focus on potential, then you’ll move toward the potential.

Second, we repeat our hurt in relationships. We use hurt as a wedge and a weapon. We say things like, “Remember when you did that?” or “But you did this!”

The Bible says in Proverbs 17:9, “Love forgets mistakes; nagging about them parts the best of friends” (TLB). Nagging also parts marriages and every other relationship you have. Nagging doesn’t work.

Third, we repeat our hurt by telling it to other people. It’s called gossip! We tell everybody else except God and the person with whom we have the problem.

Did you know that God hates gossip? He hates it as much as he hates pride—because that’s what gossip is. Gossip is pure and simple ego, or trying to make ourselves look and feel better. Every time you share gossip, you are being prideful, and God hates pride and gossip.

Love keeps no record of wrongs. Love doesn’t repeat a wound so that it turns into resentment or gossip or pride.

Mark 11:25 says, “Whenever you pray, forgive anything you have against anyone. Then your Father in heaven will forgive your failures” (GW). This verse in the Amplified Bible says to “let it go.”

Love responds to hurt by letting it go.