Thời xưa, các nguyên âm không được viết ra dù chúng vẫn được phát âm khi đọc/nói
Khoảng năm 600 sau Chúa, một nhóm học giả bắt đầu phát triển hệ thống nguyên âm (được gọi là niqqud) mà hiện nay chúng ta đang sử dụng, bao gồm các dấu nhỏ được viết bên trên, bên trái và bên dưới các phụ âm
Ví dụ: אֶת
Trong đó, א (aleph) và ת (tav) là 2 phụ âm, dấu 3 chấm nhỏ bên dưới א (aleph) là nguyên âm tsere phát âm là “e”
Như vậy, từ này được phát âm là “aleph câm” + “e” + “t” = “et”
Các vị trí của nguyên âm
Có 5 nhóm nguyên âm trong tiếng Hy Bá Lai
Nguyên âm loại a
Nguyên âm loại e
Nguyên âm loại i
Nguyên âm loại o
Nguyên âm loại u
ÂM TIẾT
Để biết một từ có bao nhiêu âm tiết, chúng ta dựa trên nguyên âm đầy (nguyên âm dài và nguyên âm ngắn). Nguyên âm nửa (nguyên âm rất ngắn và sheva ghép) không được xem là một âm tiết.
Lưu ý: xem phần “Các loại nguyên âm” để biết trường độ nguyên âm dài, ngắn hay rất ngắn
Trong tiếng Hy Bá Lai, phân biệt âm tiết mở và âm tiết đóng
Âm tiết mở: khi nó gồm một phụ âm, một nguyên âm và không được kết thúc bằng một phụ âm
Âm tiết đóng: khi nó gồm một phụ âm, một nguyên âm và được kết thúc bằng một phụ âm (xem ví dụ bên dưới).
Lưu ý: sẽ có ngoại lệ khi phụ âm kết thúc là א(aleph) và ה (Hey): hai phụ âm này khi kết thúc âm tiết sẽ là âm câm (không được phát âm). Nên chúng mất đi giá trị phụ âm và không thể khiến âm tiết trở thành âm tiết đóng