Posted in Hy Bá Lai

Qal-Qatal (Qal-Perfect)

GIẢI THÍCH

  • Qal-Qatal (hay Qal-Perfect) là nói đến một động từ đang ở mô hình Qal (chủ động) và ở hình thức Qatal (đã hoàn thành)
  • Như vậy, động từ ở mô hình Qal-Qatal diễn tả một hành động ở thể chủ động và đã hoàn thành trong quá khứ

LƯU Ý

  • Phần lớn động từ trong phần từ vựng được viết ở mô hình Qal, hình thức Qatal, ngôi 3, giống đực, số ít
  • Ví dụ:
    • שָׁמַר “Anh ấy đã gìn giữ”

CÁCH CHIA ĐỘNG TỪ MÔ HÌNH QAL-QATAL (dành cho động từ mạnh)

  • Thứ nhất, xác định căn tố của động từ
  • Thứ hai, tùy theo ngôi, giống và số mà phần hậu tố thêm vào của động từ biến đổi (bảng ghi nhớ bên dưới)
  • Thứ ba, tùy theo ngôi, giống và số mà phần nguyên âm dưới từng phụ âm biến đổi (bảng ghi nhớ bên dưới)

BẢNG GHI NHỚ HẬU TỐ VÀ BIẾN ĐỔI NGUYÊN ÂM

  • Bảng này lấy ví dụ minh họa với động từ שָׁמַר (bảo vệ, gìn giữ)
  • Căn tố của động từ: שׁ.מ.ר (đây là động từ mạnh)
  • Màu đỏ là phần hậu tố thêm vào động từ tùy theo ngôi, giống, số, riêng [ngôi 3, đực, ít] không có hậu tố
  • Có 3 trường hợp mà hậu tố thêm vào tương đồng với đại từ nhân xưng tương ứng: [ngôi 1, chung, nhiều], [ngôi 2, đực, nhiều], [ngôi 2, cái, nhiều]

  • Bảng tóm tắt bằng tiếng Anh:
Posted in Nghe giảng

Chủ đề Cảm tạ

1. Bài giảng “HÀNH ĐỘNG CẢM TẠ” – MS. Thái Phước Trường

Nguồn Youtube Sông Nước Hằng Sống – 30/10/2023

2. Bài giảng “HÃY CẢM TẠ ĐỨC GIÊ-HÔ-VA” – MS. Thái Phước Trường

Nguồn Youtube Hội thánh Tin Lành Nguyễn Tri Phương – 03/09/2023

3. Bài giảng “TINH THẦN CẢM TẠ CHÚA” – MS. Nguyễn Hữu Bình

Nguồn Youtube Phúc Âm – 17/12/2022

4. Bài giảng “NỨC TIẾNG TẠ ƠN” – MS. Nguyễn Hữu Bình

Nguồn Youtube Hội thánh Tin Lành Cao Lãnh – 08/08/2022

5. Bài giảng “TÔI CẢM TẠ CHÚA” – MS. Nguyễn Thỉ

Nguồn Youtube WAI Media – 05/11/2021

Posted in Nghe giảng

Chủ đề Tỉnh thức

1. Bài giảng “HÃY TỈNH THỨC” – MS. Thái Phước Trường

Nguồn Youtube Hội thánh Tin Lành Việt Nam – 16/08/2022

2. Bài giảng “HÃY TỈNH THỨC” – MS. Phan Vĩnh Cự

Nguồn Youtube Hội thánh Tin Lành Việt Nam – 23/08/2022

3. Bài giảng “HÃY TỈNH THỨC” – MS. Nguyễn Hữu Bình

Nguồn Youtube Hội thánh Tin Lành Tân Thành Đồng Nai – 21/08/2022

4. Bài giảng “SỐNG TỈNH THỨC” – MS. Châu Tử Tôn

Nguồn Youtube Hội thánh Tin Lành Việt Nam – 28/11/2022

5. Bài giảng “SỐNG TỈNH THỨC” – MS. Nguyễn Bình Tín

Nguồn Youtube Hội thánh Tin Lành Việt Nam – 05/12/2022

Posted in Hy Bá Lai

Tổng quan động từ

GIỚI THIỆU

  • Tiếng Hê-bơ-rơ trong Kinh Thánh chủ yếu là ngôn ngữ của động từ
  • Mỗi động từ được xây dựng trên nền tảng căn tố (từ gốc, tiếng Anh “root”, tiếng Do Thái shoresh – שׁוֹרֶשׁ) thường gồm 3 phụ âm chính cấu tạo nên từ đó
    • Ví dụ: động từ מָלַךְ (trị vì)
    • Có căn tố là מלך

PHÂN TÍCH CĂN TỐ

  • Theo cách hiện đại, mỗi một phụ âm trong căn tố được quy cho một con số I, II và III (tính từ phải sang trái)
    • Ví dụ: động từ מָלַךְ (trị vì)
    • Có căn tố là מלך, trong đó I = מ, II = ל, III = ך
  • Động từ được xem là mạnh khi trong căn tố của nó không có phụ âm sâu (Alef, He, Khet, Ayin, Resh) và không có Yod hay Nun. Ngược lại, nếu có các phụ âm trên trong căn tố thì đó là động từ yếu và sẽ có những biến đổi đặc biệt tùy theo hình thức
  • Bảng dưới đây tóm lược các trường hợp động từ yếu, dựa trên số thứ tự I, II, III của phụ âm trong căn tố:

CÁC MÔ HÌNH ĐỘNG TỪ

  • Hệ thống động từ tiếng Hê-bơ-rơ có 7 mô hình chính (tiếng Anh “pattern”, “stem”, tiếng Do Thái binyanim – בִּנְיָנִים)
  • 7 mô hình gồm:
    • Thể chủ động: Pa’al (Qal), Piel, Hifil, Hitpael
    • Thể bị động: Nifal, Pual, Hofal
  • Lưu ý: Mô hình Pa’al (Qal) là mô hình căn bản, các mô hình khác được bắt nguồn từ Pa’al (Qal). Gần 70% các động từ là ở mô hình Qal
  • Bảng biến đổi hình thức của động từ theo mô hình:

CÁC ĐẶC TÍNH CỦA ĐỘNG TỪ

  • Khi phân tích một động từ, trước hết cần xác định động từ đó thuộc mô hình nào trong số 7 mô hình cơ bản trên, điều này giúp chúng ta biết động từ ở thể chủ động hay bị động
  • Tiếp theo, cần xác định các yếu tố sau:
    • Hình thức:
      • Về hình thức, cần phân chia động từ ra hai loại “có ngôi thứ” (tức động từ có thể xác định được ngôi của chủ ngữ) và “không có ngôi thứ”
      • Đối với động từ có ngôi thứ, các hình thức có thể xác định là Qatal (thể hoàn thành), Yiqtol (chưa hoàn thành) và dạng mệnh lệnh
      • Đối với động từ không có ngôi thứ, các hình thức bao gồm phân từ (participle) và động từ nguyên mẫu (infinitive)
    • Ngôi thứ: xác định ngôi của chủ ngữ động từ (ngôi 1 “tôi/chúng tôi”, ngôi 2 “bạn/các bạn”, ngôi 3 “anh ấy/chị ấy/họ”)
    • Giống: động từ có thể xác định thuộc giống đực, giống cái hay giống chung
    • Số: động từ có thể phân chia ra số ít hay số nhiều
    • Căn tố: phần lớn động từ có 3 phụ âm gốc trong căn tố. Trong phần từ vựng, các động từ được viết ở mô hình Qal, hình thức Qatal, ngôi 3, giống đực, số ít
Posted in Tóm tắt sách

Sứ điệp Cựu Ước

Tác giả: Viện Thần học Việt Nam

Nguồn: có thể tìm đọc trong VietBible

CHƯƠNG 1: NAN ĐỀ CỦA CỰU ƯỚC

1.1. Những nan đề của Cựu Ước

  • Giá trị của Cựu Ước không được nhận biết, có thể do nhiều lý do:
    • Thế giới Cựu Ước và nếp suy tư cách biệt chúng ta hơn là Tân Ước
    • Nhiều đoạn của Cựu Ước được dịch khó hiểu
    • Cựu Ước quá dài (gấp ba Tân Ước)
    • Cựu Ước không có nguyên tắc quán nhất rõ ràng (để kết nối các sự kiện cách mạch lạc hợp lý)

1.2. Những sợi canh chỉ trong Cựu Ước

  • Cựu Ước gồm nhiều sợi canh chỉ không hề đan dệt lại với nhau. Chúng có sự hòa hợp nhưng không phải là thống nhất, cùng hướng về một tiêu điểm là Chúa Jesus
  • Vì tính cách đa tạp và khác lạ của Cựu Ước nên ta không lấy làm lạ nếu chỉ dùng riêng một phương pháp không đủ mở cho ta tất cả kho tàng chôn giấu trong Cựu Ước

CHƯƠNG 2: MẶC KHẢI BAN SƠ

  • Chúng ta không thể biết được Sáng 1:1-2:3 đã được mặc khải như thế nào. Không có bằng chứng nào cho thấy mặc khải đó có trong ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Hê-bơ-rơ và ít có học giả bảo thủ nào chịu gán cho nó một nhân vật nào kém hơn Môi-se
  • Có nhiều bằng chứng về ngôn ngữ học cũng như ở phương diện khác cho ta nghĩ rằng Áp-ram đã mang chúng theo, không nhất thiết bằng văn tự khi đi từ Ha-ran vào Ca-na-an
  • Tác giả không quả quyết rằng chỉ có tổ phụ của Áp-ram mới lưu giữ những câu chuyện đó cách thuần vẹn mà chỉ tin rằng Đức Thánh Linh đã kiểm soát sự ghi chép để tránh những sai lầm

2.1. Vị trí của nó trong Cựu Ước

  • Sáng 1:1-11-32 hiệp thành một bộ phận thống nhất và thiết yếu trong câu chuyện cứu chuộc
  • Các gia phả có công dụng nhắc nhở cho dân Y-sơ-ra-ên cũng như Hội thánh sau này rằng thế giới không tự nó tồn tại, và Đức Chúa Trời vẫn để tâm chăm sóc tất cả
  • Ngoài gia phả, các câu chuyện còn lại chứa đựng những chân lý làm nền tảng và là một phần thiết yếu để giải thích những việc xảy ra sau đó

2.2. Nước lụt và tháp Ba-bên

  • Ê-sai bắt đầu những lời tiên tri bằng sự kiện Ba-by-lôn sụp đổ, dường như không liên quan đến thời đại của ông. Chúng ta sẽ nắm được ý nghĩa của lời tiên tri khi hiểu rằng đối với Ê-sai, Ba-by-lôn không phải chỉ là một thành phố mà là hình ảnh xã hội loài người được nhân cách hóa, kiêu căng nổi lên chống lại Đức Chúa Trời. Ê-sai có thể nhân cách hóa được là nhờ câu chuyện tháp Ba-bên trong Sáng 11:1-32 đã vẽ nên đặc tính tiêu biểu cho thành đó
  • Câu chuyện nước lụt cũng lưu lại đằng sau Cựu Ước một ký ức kinh khiếp. Ngoài Sáng, câu chuyện còn được nhắc lại trong Thi thiên 29:10, Ê-sai 54:9, Thi thiên 89:37

2.3. Sự sa ngã của loài người

  • Lời xưng tội nếu là một câu nói thành thật thì có lẽ là câu mà con người khó nói và ít nói hơn hết. Sự thất bại hoàn toàn của Y-sơ-ra-ên vẫn không đủ để dạy con người bài học này
  • Dù các vị thánh trong Cựu Ước không thể đạt được ý thức về tội lỗi như trong Tân Ước, họ rất sẵn sàng nhìn nhận tội lỗi mình, có thể họ đã nhận thức được họ thuộc về một dòng giống sa ngã
  • Chết không phải là điều tự nhiên hay cánh cửa đi tới điều tốt hơn, nhưng là hậu quả không thể tránh được của những điều con người đã làm

2.4. Cuộc sáng tạo và vườn địa đàng

  • Đức Giê-hô-va tự mặc khải chính Ngài kiểm soát mọi sự và không bị bất cứ một cái gì chi phối. Sự thờ hình tượng bị bắt gặp nhiều lần trong Cựu Ước không phải là bỏ Đức Chúa Trời để thờ các thần khác mà là đem Chúa vào trong các tạo vật của Ngài và đặt Ngài dưới sự kiểm soát của chúng

CHƯƠNG 3: CÁC THÁNH TỔ

3.1. Bối cảnh của Sáng thế ký 12-50

  • Con người phải sống trong xã hội và là thành phần của xã hội ấy, nhưng trước hết họ phải sống trong tương giao với Đức Chúa Trời. Do đó, trước khi gặp xã hội Y-sơ-ra-ên do Đức Chúa Trời thiết lập, chúng ta thấy hình ảnh các vị thánh tổ trong tương giao với Ngài
  • Các thánh tổ là những mẫu người đức tin

3.2. Áp-ra-ham

  • Chúng ta biết rất ít về con đường dẫn ông đến đức tin. Điều quan trọng không phải là chúng ta đến với đức tin bằng cách nào mà là chúng ta bước đi trong đức tin như thế nào
  • Đức tin của Áp-ra-ham biểu lộ trong ba chiều hướng đặc biệt:
    • Vâng phục
    • Tin cậy nơi quyền năng giữ gìn của Đức Chúa Trời
    • Sẵn lòng tin vào mục đích tương lai của Đức Chúa Trời
  • Vẫn tồn tại những nhược điểm trong đức tin Áp-ra-ham (nghi ngờ sự bảo vệ của Chúa tại Ai Cập, nghi ngờ phần nào lời hứa của Chúa nên đến với A-ga)

3.3. Y-sác

  • Hai đặc điểm trong đời sống Y-sác:
    • Sẵn sàng làm nạn nhân hy sinh
    • Sẵn sàng tiếp nối lối sống của cha mình
  • Thất bại lớn nhất của ông là tin rằng mình đã biết trọn vẹn ý chí của Đức Chúa Trời, dù đã biết lời tiên tri cho Rê-bê-ca, ông vẫn tin rằng Ê-sau mới là đứa con được hưởng phước lành

3.4. Gia-cốp

  • Có thể chúng ta không thích Gia-cốp nhưng ông vẫn được xem là con người đức tin. Ông biết và xem trọng những lời hứa của Chúa, nhưng ông dùng những cách bất kể tốt xấu để đạt được những điều ông tin là của mình chứ không đợi Chúa thực hiện lời hứa
  • Phải đợi đến lúc vật lộn với Đức Chúa Trời, ông mới học biết rằng Ngài có những phương cách để hoàn thành lời hứa

3.5. Giô-sép

  • Giô-sép là lời chứng cho Rô-ma 8:28 “Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời”
  • Một trong những khía cạnh quan trọng của đức tin là sẵn sàng nhìn thấy ý chí của Đức Chúa Trời trong những cơ hội Ngài đưa đến cho chúng ta
  • Giô-sép đợi đến thời điểm Chúa chọn cho sự sum họp của gia đình
  • Ông có đủ phú quý, vinh hoa, quyền thế nhưng ông không thay lòng đổi dạ. Ông không xem Ai Cập là quê hương nhưng nhận biết mình là công cụ để Đức Chúa Trời thực hiện kế hoạch của Ngài

CHƯƠNG 4: CHUYỆN TÍCH CỨU CHUỘC

4.1. Đức Chúa Trời hành động

  • Nguyên tắc thứ nhất: sự chọn lọc. Đức Thánh Linh đã chọn lọc những chi tiết bày tỏ rõ hơn hết việc Đức Chúa Trời làm để đem sự cứu rỗi đến cho con người và cách con người phản ứng đối với sự cứu rỗi đó
  • Nguyên tắc thứ hai: Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính mình Ngài trong lời nói và hành động qua những người được Ngài lựa chọn và sửa soạn
  • Nguyên tắc thứ ba: Đức Chúa Trời không chỉ là Đấng Sáng tạo mà còn là Đấng duy trì thế giới

4.2. Hệ thống biểu tượng của lịch sử cứu chuộc

  • Khi Đức Chúa Trời hành động, Ngài không phụ thuộc vào hoàn cảnh hay con người, vì Ngài có thể dấy lên một Môi-se vào một thời khác. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện có thể dùng làm biểu tượng vì bản chất câu chuyện không liên hệ đến những biến cố thời gian và không gian
  • Điều này không áp dụng cho sự thành nghiệm của biểu tượng. Khảo cổ học đã chứng tỏ, những tính toán định ngày tháng quan trọng nào đó trong lịch sử loài người là vô giá trị; nhưng khi đến sự kiện căn bản của sự cứu chuộc, chúng ta được phép đặt nó một cách chính xác vào khoảng nào trong lịch sử nhân loại
  • Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trên quy luật cũng như sự vô quy luật

4.3. Sự thất bại của Y-sơ-ra-ên

  • Xuất Ai Cập mở màn cho một giai đoạn mới được xác nhận bằng giao ước ở Si-nai nhưng đại khối quần chúng vẫn tiếp tục sống trong quá khứ, mơ về Ai Cập
  • Cùng với việc sống trong quá khứ, người ta cũng không sẵn sàng sống cho hiện tại mới mẻ. Chúng ta cũng thường hay hành động như họ

4.4. Ơn Giao ước

  • Đức Chúa Trời tuyên bố hành động ân huệ của Ngài rồi đề nghị dành cho một địa vị đặc quyền, một đề nghị vượt xa mọi lời hứa với các tổ phụ. Trong giao ước không có điều khoản nào vì họ phải lấy đức tin đơn thuần mà nhận đặc tính ân huệ của Đấng lập giao ước
  • Trong Xuất 19:5, bên cạnh lời xác nhận Ngài đã chọn Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp, Đức Chúa Trời cũng tuyên bố rằng cả trái đất thuộc về Ngài

CHƯƠNG 5: LUẬT PHÁP

5.1. Luật pháp căn bản

  • Mười điều răn chiếm vị trí đặc biệt trong việc bày tỏ ý chỉ Đức Chúa Trời
  • Nếu chúng ta hiểu đúng Mười điều răn (Xuất 20) và Sách giao ước (Xuất 24:7), trong đó chứa đựng tất cả những gì Ngài đòi hỏi nơi dân Ngài. Mười điều răn chứa đựng những nguyên tắc căn bản mà tâm tính cần có nếu muốn tương giao với Chúa, phần còn lại bình luận và chỉ dẫn cách để tạo nên tâm tính đó

5.2. Các bộ luật khác

  • Khi so sánh bộ sách Giao Ước, Luật Thánh khiết và Luật Phục truyền:
    • Sách Giao ước phần lớn là luật thuần túy
    • Luật Thánh khiết không còn là luật pháp thuần túy mà là một phản ảnh sự thánh khiết của Đức Chúa Trời trong dân Ngài
    • Luật Phục truyền gần giống như bài giảng thực tế cho những ai đã có kinh nghiệm sâu xa với Chúa
  • Luật Dân vụ và Luật Thiên vụ:
    • Luật Dân vụ đưa ra một hành động do một động lực hay trong hoàn cảnh nào đó rồi đưa ra trừng phạt tương ứng
    • Luật Thiên vụ dành cho dân Y-sơ-ra-ên và bắt nguồn từ mối quan hệ giữa họ với Chúa, có những đòi hỏi mang tính tuyệt đối
  • Luật Nghi lễ: được ban bố sau khi đã thiết lập giao ước, dùng để duy trì giao ước sau khi giao ước được thiết lập. Những ai đã từng kinh nghiệm hiện thực đằng sau các nghi thức thể chế sẽ thấy mình đang sống như Chúa đã sống. Họ sẽ giữ nguyên tắc căn bản của luật pháp, không phải vì họ cảm thấy bị bắt buộc mà là vì sự sống của Chúa Cơ đốc từ trong họ phát huy ra

CHƯƠNG 6: CÁC SÁCH TIÊN TRI TRƯỚC

(Giô-suê, Các quan xét, Sa-mu-ên, Các Vua)

6.1. Sự suy vi của Y-sơ-ra-ên

  • Sau khi Giô-suê và những người đồng thời qua đời, lịch sử dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu xuống dốc cho đến khi không thể cứu chữa và họ phải bị lưu đày
  • Đức Chúa Trời đã dấy lên những nhân vật để chặn đứng sự ruỗng nát, nhưng họ rất ít khi nâng được mức sống và trình độ tôn giáo của toàn dân lên
  • Đến thời kỳ, Đức Chúa Trời cũng phải loại bỏ những gì đã tỏ ra không thể sửa chữa được nữa

6.2. Giô-suê

  • Sách Giô-suê thường bị hiểu lầm là lịch sử cuộc chinh phục xứ Ca-na-an. Thật ra, mười hai chương đầu cốt ghi lại những công việc quyền năng của Đức Chúa Trời trong thời kỳ chinh phục
  • Có hai câu chuyện về tội lỗi:
    • Một tội của A-can khiến toàn dân bị rủa sả vì cả trại đều dính líu đến vật cấm
    • Tội thứ hai là thỏa hiệp với dân Ga-ba-ôn, đây là tội lỗi bậc nhất của dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ Các quan xét
  • Những phần đất mà dân sự chưa chiếm được là một lời chứng thường trực lên án tội lỗi và sự thiếu kém đức tin của họ

6.3. Các quan xét

  • Các quan xét mở đầu bằng một bảng liệt kê những thất bại trong thời kỳ chinh phục, cho thấy thái độ thật sự của dân sự
  • Đối với họ, Đức Giê-hô-va là một vị thần trong nhiều vị thần. Họ làm điều mà chúng ta vẫn thường làm: chúng ta cảm thấy bị lôi kéo thỏa hiệp và cúi đầu trước các thần tượng của thế gian, của cải, quyền lực, dư luận và danh vọng

6.4. Sa-mu-ên

  • Nhà trước thuật sách Sa-mu-ên chia quyển sách thành nhiều phần: về Sa-mu-ên, chế độ quân chủ, về Sau-lơ, về Đa-vít làm vua, về con người Đa-vít và một phụ lục
  • Trong sách về Sa-mu-ên, chúng ta thấy tôn giáo bại hoại đã ăn sâu vào trung tâm Y-sơ-ra-ên, là những hành vi đồi bại về nhục dục
  • Dân chúng đòi cho được một vua và Sau-lơ có tất cả bề ngoài cần thiết để làm một vị vua lý tưởng, nhưng Kinh Thánh coi thường ông, chỉ dành hai chương để nói về cuộc trị vì của ông
  • Câu chuyện Đa-vít với hình ảnh vị vua thành công cũng như hình ảnh bi đát về con người nơi ông cho ta bài học rằng không có người nào đủ sức đại diện Đức Chúa Trời như cách dân Y-sơ-ra-ên kỳ vọng

6.5. Các Vua

  • Sách Các Vua chạy suốt từ triều đình hào nhoáng lộng lẫy của Sa-lô-môn đến lúc phóng thích vua Giê-hô-gia-kin khỏi ngục tù Ba-by-lôn
  • Nhân vật chính trong Các Vua không phải là những vị vua trung thành, nhưng là những phát ngôn viên của Đức Chúa Trời, các vị tiên tri
  • Không có cuộc cải cách thật sự nào mà chỉ là những cố gắng ngắn ngủi đắp đê ngăn chặn điều ác, nhưng một khi đê vỡ, nó còn làm cho sự hủy diệt cuối cùng đến chắc chắn hơn

CHƯƠNG 7: CÁC SÁCH TIÊN TRI SAU

(Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Sách mười hai gồm lời tiên tri của mười hai vị trong một cuốn duy nhất)

7.1. Ngày của Chúa

  • Giô-ên là vị tiên tri duy nhất mà chúng ta không thể định niên đại một cách chắc chắn. Sứ điệp của ông có tính cách phi thời gian, ông nói về Ngày của Chúa, từ này trong Cựu Ước tương đương với từ Ngày Chúa tái lâm trong Tân Ước

7.2. Tình yêu của Đức Chúa Trời

  • Lời tiên tri của Giô-na về thành Ni-ni-ve có thể đặt vào khoảng chưa đầy 40 năm sau khi Ê-li-sê qua đời và A-mốt nói tiên tri
  • Trong sách này, chúng ta thấy Ngài chẳng những tìm kiếm sự ăn năn của thành phố tội ác Ni-ni-ve mà còn tỏ ra thương xót “mười hai vạn người không phân biệt tay hữu và tay tả” (có lẽ là trẻ em) “với một số thú vật rất nhiều”

7.3. Các vị tiên tri của thế ký thứ tám

  • Các lời tiên tri của A-mốt, Ô-sê, Ê-sai 1:1-39:8 và Mi-chê thường được gộp dưới đại đề chung là các vị tiên tri của thế kỷ thứ tám (riêng về Ê-sai 40:1-66:24 có sứ điệp nổi bật nên cần được xét dưới một khung cảnh khác)
  • Sứ điệp của các vị tiên tri này, bất luận họ nói với miền bắc Y-sơ-ra-ên hay miền nam Giu-đa, đều có tính cách biện minh cho sự phán xét hầu đến
  • Đối với A-mốt, đức tính căn bản của Đức Chúa Trời là công bình. Sự công bình này tỏ trong sự trừng phạt những kẻ phạm tội đi ngược lại lương tâm mình, dù họ không là thành phần của dân giao ước
  • Ô-sê quan tâm nhiều hơn đến những hành vi của dân sự dưới ánh sáng của tình yêu Đức Chúa Trời. Ông nhìn thấy cái giá Đức Chúa Trời phải chịu khi lên án dân Ngài, đồng thời ông cũng thấy rằng việc một dân tộc không yêu mến Chúa nhưng lại làm dân Ngài với mọi đặc quyền là một mâu thuẫn
  • Ê-sai đã kết hợp sự yêu thương và công bình với nhau trong thị tượng về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Ông nhận biết rằng dòng giống thể xác không thể làm nên dân Chúa, muốn mang tước vị ấy cách xứng đáng thì phải có hạt giống thánh bên trong
    • Ê-sai thấy trước cả hai dân tộc và vua quan đều sẽ bị đốn ngã, và từ trong số dân sót sẽ xuất hiện một vị vua mang mọi đặc tính mà Đa-vít và những người kế vị ông không thể nào sánh được
    • Sự khác biệt giữa Ê-sai và Ê-li: đối với Ê-li, nhân dân thất bại làm cho chương trình của Đức Chúa Trời thất bại (IVua 19:14), còn đối với Ê-sai, sự thất bại hiển nhiên của người Y-sơ-ra-ên đồng thời với ông đã khiến cho các mục đích của Đức Chúa Trời được thành tựu trọn vẹn
  • Mi-chê là một trong bốn vị tiên tri ít ảnh hưởng đến độc giả trung bình lúc ban đầu, nhưng là người duy nhất trong số đó được ghi lại bằng sứ điệp của ông đã đem lại một cuộc cải cách, tuy ngắn ngủi. Giọng văn của ông mạnh bạo và đã thúc đẩy vua Ê-xê-chia hành động

7.4. Thời kỳ Giô-si-a

  • Không thấy nói đến một vị tiên tri nào trong khoảng thời gian 50 năm Ma-na-se trị vì. Lời truyền khẩu rằng Ê-sai bị Ma-na-se giết có thể là đúng. Nhưng các vị tiên tri của thế kỷ thứ tám đã làm phận sự rất tốt đẹp. Chắc chắn ý muốn của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tồn tại. Nếu Ma-na-se không nghe lời họ, chắc ông cũng không nghe một vị tiên tri mới, bởi vậy không một ai được sai đến với ông
  • Sô-phô-ni là người tiên phong cho thời đại mới. Những lời mô tả trong Sô-phô-ni 1 nói rõ thời gian trước cuộc cải cách của Giô-si-a nên ta có thể tin rằng vị tiên tri là người đã thúc đẩy nhà vua trẻ ra tay cải cách
  • Na-hum giữ vị trí bổ túc cho Giô-na, khi Giô-na bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời trong sự nhẫn nhục tìm kiếm sự ăn năn và giải cứu cho thành Ni-ni-ve, Na-hum cho thấy hậu quả của sự khinh lờn tình yêu ấy
  • Ha-ba-cúc dường như đã ghi lại những lời đối thoại giữa Đức Chúa Trời và ông trải qua nhiều năm. Đóng góp lớn nhất của ông vào chân lý được mặc khải mỗi ngày một rộng lớn hơn, là câu “Người công chính sẽ sống nhờ lòng trung thành của mình” (Ha 2:4). Ông được mặc khải rằng giữa số phận bấp bênh của những người dân sót, cá nhân vẫn được an toàn nhờ một cuộc sống hết lòng tin cậy Đức Chúa Trời

7.5. Giê-rê-mi

  • Đức Chúa Trời đưa ra minh chứng qua Giê-rê-mi rằng bởi ân điển, con người có thể sống đời tin cậy dù mọi sự giúp đỡ và duy trì bên ngoài đều không còn
  • Trong năm năm đầu đời trị vì của Giê-hô-gia-kim, chúng ta thấy Giê-rê-mi chịu hết hoạn nạn này đến hoạn nạn khác. Ông kinh nghiệm phước lành và năng lực trong khi chứng minh rằng con người vẫn có thể bước đi theo đường lối của Đức Chúa Trời dù bị tước đoạt hết mọi sự hỗ trợ của loài người

7.6. Ê-xê-chi-ên

  • Giê-rê-mi nói tiên tri cho những kẻ sẽ đi đày, Ê-xê-chi-ên nói cho những kẻ đã ở đó. Công tác của ông là thuyết phục họ rằng họ ở trong nơi lưu đày là do hành động ân sủng của Đức Chúa Trời. Đó không phải hình phạt thảm khốc mà là phương cách Ngài cứu họ khỏi tai ương sắp đổ xuống Giê-ru-sa-lem
  • Giê-rê-mi làm sáng tỏ điểm con người không thể đi đến chỗ ăn năn, còn Ê-xê-chi-ên vạch ra thứ tự bội đạo, phán xét, phục hồi và ăn năn, nhưng bước cuối cùng chỉ hoàn toàn dựa vào hành động ân huệ của Chúa

7.7. Đầy tớ Đức Giê-hô-va

  • Ở đây xét riêng sứ điệp của các chương sau sách Ê-sai
  • Trong chương 40-48, chúng ta có hình ảnh của Đức Giê-hô-va sắp sửa thực hiện một cuộc xuất hành mới. Cuối phần này cho thấy Y-sơ-ra-ên được thoát khỏi ách đô hộ Ba-by-lôn nhưng không thoát khỏi ách tội lỗi. Chương 49-55 nói về Y-sơ-ra-ên có thể được giải thoát khỏi tội lỗi như thế nào. Như thế chúng ta được đưa đến với vị đầy tớ thật

7.8. Các vị tiên tri sau thời lưu đày

  • Sau khi lưu đày trở về, chức vụ tiên tri chóng bị phai mờ. Đức Chúa Trời không còn gì để mặc khải cho đến khi Đấng hoàn thành lời tiên tri phải đến. Lời tiên tri của ba vị A-ghê, Xa-cha-ri, Ma-la-chi bắc một nhịp cầu giữa những lời tiên tri và bài giảng
  • A-ghê đã dựa vào mặc khải của quá khứ để đem luận lý Đức Thánh Linh đã dạy mà áp dụng cho hoàn cảnh lúc bấy giờ
  • Sáu chương đầu của Xa-cha-ri cho thấy loại tiên tri khải huyền, đặc biệt liên kết với sách Đa-ni-ên và Khải thị. Lời tiên tri đó khải minh bản tánh của Đức Chúa Trời ở mức độ cần thiết hay có thể thấu triệt được cho đến khi Đấng khải minh toàn hảo hiện đến
  • Sứ điệp của Ma-la-chi gần như là một loạt bài giảng ngắn trong Cựu Ước

CHƯƠNG 8: NHÀ THI VỊNH

8.1. Sự tể trị trên cá nhân

  • Nhiều Thi thiên, nhất là những thi vịnh của Đa-vít xuất phát từ những hoàn cảnh hoạn nạn thiếu thốn của cá nhân, những cách thức diễn tả những đau khổ đó đã được Đức Thánh Linh tể trị
  • Một bản thánh ca chỉ thật sự vĩ đại khi nào kinh nghiệm cá nhân đằng sau nó phải được tổng quát hóa để cho đa số những người thờ phượng đều có thể hát lên với cảm xúc chân thành

8.2. Hai loại thi vịnh chính

  • Những thi vịnh của người Đức Chúa Trời do Thi 1 đại diện. Chúng ta thấy ông qua những nỗi buồn và niềm vui, những thất bại và chiến thắng, những sợ hãi và khải hoàn
  • Những Thi thiên của vị vua của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, vị vua thời Cựu Ước không phải là “thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc” đủ chứng tỏ rằng đây là lời tiên tri về vị vua chưa đến

8.3. Quy định tác giả

  • Ngày nay nói chung, người ta tin rằng nguyên thủy có ba sách, là Thi 1-41, 42-89 và 90-150. Nếu điều đó đúng thì ta có thể phỏng đoán không sai mấy là chúng có ba nhóm: của Đa-vít, của người Lê-vi và khuyết danh. Dĩ nhiên trong cả ba nhóm đều có Thi vịnh của Đa-vít và khuyết danh
  • Các Thi thiên vô danh phần lớn là những thánh ca thờ phượng, trong đó ca tụng Đức Chúa Trời vì lòng nhơn lành của Ngài
  • Trong các Thi thiên của Đa-vít, ngoài hai Thi thiên cảm tạ 65 và 103, đều có một sợi chỉ xuyên suốt đó là kẻ thù của ông, cũng là của Đức Chúa Trời. Đa-vít nói đến những kẻ thừa hành của Sa-tan, ông biết chúng không phải là kẻ ác suông vì chúng phục vụ cho một lực lượng gian ác
  • Các Thi thiên của con cháu Cô-rê ắt là do nhiều tác giả trong nhiều thời kỳ khác nhau
  • Các Thi thiên A-sáp xuất phát từ một dòng họ Lê-vi ca xướng

CHƯƠNG 9: CÁC SÁCH KHÔN NGOAN

9.1. Sách Châm ngôn

  • Sự khôn ngoan mà con người thâu lượm được bằng cách học hỏi quá khứ và hiện tại ở Y-sơ-ra-ên cũng như Cận Đông cổ thường được diễn đạt bằng những câu ngắn gọn, hàm súc, có khi gồm hai câu điệp ý hay đối ý. Phần lớn sách Châm ngôn gồm những câu song đối như thế
  • Sưu tập Sa-lô-môn thứ nhất (10:1-22 16:1-33) gồm 375 câu cách ngôn, tương ứng với trị số của những chữ làm thành tên vua. Sưu tập Sa-lô-môn thứ hai (25:1-12, 27) hoàn thành không tham khảo tập trước, vì có một số cách ngôn lập lại trong tập này
  • Sách Châm ngôn kết thúc bằng ba đoạn ngắn, lời của A-gu-rơ (30:1-33), lời của Lê-mu-ên (31:1-9) và một bài thơ mô tả người vợ lý tưởng (31:10-31)

9.2. Sách Gióp

  • Sách Gióp được đặt vào Kinh Thánh để bổ túc cho những giáo huấn của Châm ngôn. Có những điều trên đời không thể giải thích bằng sự khôn ngoan của sách Châm ngôn, chính lúc đó sách Gióp đưa chúng ta đến với một Đức Chúa Trời hành động theo nguyên tắc, nhưng một nguyên tắc quá vĩ đại khiến chúng ta không thể nào hiểu hết được những hành động và động cơ của Ngài

9.3. Sách Truyền đạo

  • Đối với nhiều người, đây là cuốn sách bí mật của Cựu Ước, ngày nay trong số những học giả nghiên cứu sách này ít ai còn cho rằng Sa-lô-môn là tác giả
  • Ngôn ngữ của sách là một loại tiếng Hê-bơ-rơ xưa thường thấy trong các sách vở Ra-bi khoảng 200 năm TC và hoàn toàn khác với lối văn của sách Châm ngôn và các sách lịch sử từ thời quân chủ thống nhất
  • Bài học tác giả đưa ra trong cuộc tìm kiếm của ông: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài”

CHƯƠNG 10: BỘ NĂM CUỐN

Trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ, có nhóm sách nhỏ Megillot được đọc trong các giáo đường vào dịp lễ chính mỗi năm: Nhã Ca đọc trong Lễ Vượt qua, Ru-tơ trong Lễ Ngũ tuần, Ca Thương trong Lễ Kiêng ăn Tisha b’Ab, Truyền đạo trong Đại lễ chuộc tội và Ê-xơ-tê trong Lễ Purim

Sách Truyền Đạo bàn về tính cách hư không của sự khôn ngoan và nỗ lực của con người, đã được bàn ở chương 9 liên hệ đến cách sách khôn ngoan

10.1. Sách Nhã Ca

  • Câu mở đầu không nhất thiết ngụ ý Sa-lô-môn là tác giả mà chỉ xác nhận có một sự liên hệ giữa bài thơ và vua Sa-lô-môn
  • Các Ra-bi xưa thường giải thích sách này theo nghĩa hình bóng, hình bóng về tình yêu của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên dầu không thể dùng cách giải thích cố định trong tất cả các phần khác nhau
  • Tuy nhiên, có người cảm thấy lối giải hình bóng này không lột tả hết được sự sinh động và say đắm của lời thơ, vì vậy họ cho đó là một biểu tượng
  • Gần đây hơn, lối giải thích phổ thông nhất là cho rằng đó là một vở kịch, nhưng chưa ai chứng minh được ngày xưa dân Y-sơ-ra-ên có những tuồng kịch như vậy
  • Những giải thích hiện đại nhất cho rằng đó là một loạt bài thơ về hôn nhân. Ở đây ta có lời ca ngợi tình yêu hôn nhân chân thật, thuần khiết, nhưng không quên rằng nó rút sức mạnh và ý nghĩa từ một tình yêu sâu sắc và tinh khiết hơn mà nó dự tả

10.2. Sách Ru-tơ

  • Sách có một vị trí đặc biệt trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ vì vào mọi thời nó đảm bảo cho người dân ngoại bang tìm được một chỗ trong dân của Đức Chúa Trời
  • Đối với chúng ta cũng vậy, nó nói lên tính cách ngoại lệ cho những ai “đến ẩn náu dưới cánh của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên”

10.3. Sách Ca Thương

  • Quyển sách gồm có 5 phiên khúc hay ca thương viết trong những năm ngay sau khi đền thờ Giê-ru-sa-lem bị Nê-bu-cát-nết-sa hủy phá. Không có lý do vững chắc nào để gán cho tất cả cùng một tác giả
  • Trong nỗi đau buồn vì mất mát, (các) tác giả quên đi lời hứa về sự phục hồi. Đức Chúa Trời sẵn lòng chấp nhận cho con người dốc đổ nỗi sầu thảm đương khi họ vẫn tiếp tục tin cậy Ngài, vì vậy Ngài đã để cho nỗi buồn ấy có chỗ bộc lộ trong Kinh Thánh
  • Ca thương không đánh tan đám mây đau buồn, nhưng bảo đảm với người than khóc rằng Đức Chúa Trời thông cảm và chấp nhận nỗi đau của họ

10.4. Sách Ê-xơ-tê

  • Trong Kinh Thánh chúng ta thường thấy ghi lại những sự việc xảy ra mà không bình luận đúng hoặc sai, sách Ê-xơ-tê là một ví dụy
  • Điều chúng ta mong mỏi học biết được là Đức Chúa Trời vẫn giữ sự thành tín giao ước với dân Ngài dù cho đại diện của họ lắm khi tỏ ra bất xứng
  • Sách Ê-xơ-tê cũng có vai trò trong toàn bộ mặc khải của Đức Chúa Trời, bảo đảm sự vững chắc của lời hứa

CHƯƠNG 11: NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

11.1. Sách Đa-ni-ên

  • Câu chuyện trong Đa-ni-ên không ghi lại để tôn vinh ông và các bạn nhưng để tỏ rằng không có một hoàn cảnh nào mà Đức Chúa Trời không thể bảo vệ kẻ thuộc về Ngài
  • Chỉ khi nào chúng ta hoàn toàn tin quyết nơi quyền tể trị tuyệt đối của Chúa, chúng ta mới có thể nhìn về tương lai cách ích lợi

11.2. Sách Sử ký

  • Các sách tiên tri trước từ Giô-suê đến Các Vua nhằm chứng tỏ lịch sử là một mặc khải của Đức Chúa Trời. Mục đích của người viết Sử ký khác, người viết muốn khích lệ dân Do Thái trong hoàn cảnh tuyệt vọng của họ. Một khi Ngài đã lập họ, họ nằm trong ý định của Ngài, không ai có quyền thay đổi họ nếu Đức Chúa Trời không thay đổi hay hủy bỏ họ
  • Sách cũng nhấn mạnh quyền năng Thánh Linh và sự tin cậy đơn sơ của con người
Posted in Tóm tắt sách

Tân Ước lược khảo (Viện Thần Học)

Chú thích:

  • Quyển Tân Ước Lược Khảo (tác giả: Viện Thần Học Việt Nam) có nội dung tương đồng với quyển Tân Ước Căn Bản (đã tóm tắt) nhưng khác về cách diễn đạt. Quyển Tân Ước Căn Bản được viết như là dạng đề cương cho quyển Tân Ước Lược Khảo, trong khi quyển Tân Ước Lược Khảo theo cách diễn giải
  • Quyển Tân Ước Lược Khảo có cách phân chia chương mục khác và nhiều thông tin chi tiết hơn, cũng như đề cập các nguồn sách tham khảo
  • Quyển Tân Ước Căn Bản trong VietBible bị thiếu phần về ba thư tín I II III Giăng và sách Khải huyền
  • Ở đây xin phép được lướt qua những phần tương đồng giữa hai sách đã tóm tắt trong quyển Tân Ước Căn Bản và tập trung vào những phần quyển này không có

TÂN ƯỚC LƯỢC KHẢO

Tác giả: Viện Thần Học Việt Nam

Nguồn: có thể tìm đọc trong VietBible

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CÔNG CUỘC TRƯỚC TÁC TÂN ƯỚC

1.1. Công cuộc chuẩn bị người Do Thái

1.2. Công cuộc chuẩn bị người Hy Lạp

1.3. Công cuộc chuẩn bị người La Mã

1.4. Palestine vào thế kỷ đầu tiên

1.5. Công cuộc trước tác Tân Ước

  • Chia theo thời gian
  • Chia theo văn thể

1.6. Thánh vụ của Chúa Jesus qua các Phúc Âm

1.7. Văn chương Tân Ước

CHƯƠNG 2: CÁC SÁCH PHÚC ÂM CỘNG QUAN (MA-THI-Ơ, MÁC, LU-CA)

2.1. Phúc Âm Ma-thi-ơ

2.2. Phúc Âm Mác

2.3. Phúc Âm Lu-ca

CHƯƠNG 3: SÁCH PHÚC ÂM GIĂNG

3.1. Tác giả

3.2. Mục đích và nội dung

3.3. Bố cục

3.4. Những điều dạy dỗ của Chúa

3.5. Hội kiến cá nhân

3.6. Bài giảng nơi Phòng Cao

3.7. Nhập đề và kết đề

CHƯƠNG 4: SÁCH CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ

4.1. Mục đích

4.2. Bố cục

4.3. Tin Lành tại Giê-ru-sa-lem

4.4. Tin Lành tại Giu-đê và Sa-ma-ri

4.5. Tin Lành ở những xứ xa

4.6. Các hành trình của Phao-lô

4.7. Liên hệ giữa Công vụ với các Phúc Âm và các thư tín

CHƯƠNG 5: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – I&II TÊ-SA-LÔ-NI-CA

5.1. Thân thế của Phao-lô

5.2. Phao-lô quy đạo

5.3. Thánh vụ của Phao-lô

5.4. I Tê-sa-lô-ni-ca

  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

5.5. II Tê-sa-lô-ni-ca

  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

CHƯƠNG 6: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – I&II CÔ-RINH-TÔ

6.1. I Cô-rinh-tô

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

6.2. II Cô-rinh-tô

  • Mục đích
  • Bố cục
  • Bối cảnh
  • Đặc điểm

CHƯƠNG 7: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – GA-LA-TI VÀ LA MÃ

7.1. Ga-la-ti

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

7.2. La Mã

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung:
    • Lời mở đầu mang tính cá nhân và thần học
    • Tình trạng tội lỗi của con người và chứng minh nhu cầu phổ quát của sự cứu rỗi
    • Sự cung ứng của Thượng đế
    • Hệ quả luận lý của sự cứu chuộc
    • Tính cách phổ quát của sự cứu chuộc
    • Sự cứu chuộc bày tỏ ra bên ngoài

CHƯƠNG 8: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – CÔ-LÔ-SE, PHI-LÊ-MÔN, Ê-PHÊ-SÔ VÀ PHI-LÍP

8.1. Cô-lô-se

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • So sánh với Ê-phê-sô
  • Mục đích và nội dung

8.2. Phi-lê-môn

  • Bối cảnh
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Cầu nguyện cho thánh vụ của Phi-lê-môn, (3) Thỉnh cầu thu dụng Ô-nê-sim, (4) Viễn cảnh Phao-lô viếng thăm, (5) Kết luận
  • Mục đích

8.3. Ê-phê-sô

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

8.4. Phi-líp

  • Bối cảnh
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

CHƯƠNG 9: CÁC THƯ TÍN PHAO-LÔ – I TI-MÔ-THÊ, TÍT, II TI-MÔ-THÊ

9.1. I Ti-mô-thê

  • Bối cảnh
  • Mục đích
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Ủy thác cho Ti-mô-thê, (3) Lời khuyên về trật tự Hội thánh, (4) Điều kiện làm các viên chức trong Hội thánh (trưởng lão và chấp sự), (5) Nói thêm, (6) Huấn thị về sinh hoạt Hội thánh, (7) Kết luận
  • Đặc điểm

9.2. Tít

  • Bối cảnh
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Huấn thị của Phao-lô cho Tít (về Hội thánh, cá nhân, thế gian, tà giáo), (3) Việc riêng, (4) Kết luận
  • Mục đích và nội dung

9.3. II Ti-mô-thê

  • Bối cảnh
  • Mục đích và nội dung
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Cảm tạ về Ti-mô-thê, (3) Khuyên nhủ Ti-mô-thê, (4) Cảnh giác Ti-mô-thê, (5) Lời dặn dò cuối cùng, (6) Huấn thị cá nhân cho Ti-mô-thê, (7) Kết luận
  • Đặc điểm

CHƯƠNG 10: HỘI THÁNH VÀ SỰ ĐAU KHỔ – GIA-CƠ, HÊ-BƠ-RƠ, I PHI-E-RƠ

10.1. Gia-cơ

  • Tác giả
  • Bố cục: (1) Nhập đề, (2) Trắc nghiệm đức tin, (3) Bản chất của đức tin, (4) Công việc của đức tin, (5) Ứng dụng của đức tin
  • Mục đích và nội dung

10.2. Hê-bơ-rơ

  • Chủ đề
  • Tác giả
  • Bố cục: (1) Sự cao trọng của Chúa Chí tôn, (2) Sự cao trọng của đức tin, (3) Kết luận và chào thăm
  • Mục đích và nội dung

10.3. I Phi-e-rơ

  • Bối cảnh
  • Tác giả
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Quan điểm và đau khổ, (3) Áp lực và đau khổ, (4) Phục vụ và đau khổ, (5) Làm chứng và đau khổ, (6) Thái độ cá nhân và đau khổ, (7) Kết luận
  • Mục đích và nội dung

CHƯƠNG 11: HỘI THÁNH VÀ TÀ GIÁO – II PHI-E-RƠ, GIU-ĐE, I II III GIĂNG)

11.1. I Phi-e-rơ

  • Tác giả
  • Chủ đề
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

11.2. Giu-đe

  • Tác giả
  • Chủ đề
  • Bố cục
  • Mục đích và nội dung

11.3. I Giăng

  • Bối cảnh:
    • Giăng viết để chống lại nhóm Trí huệ (Gnostic), những kẻ bác bỏ nhân tính và thần tính của Chúa
    • Các sách của Giăng thường phỏng định vào khoảng giữa năm 85-95 SC
  • Mục đích và nội dung: định nghĩa bản tính của Chúa Jesus giữa lúc tà giáo xâm nhập Hội thánh vào cuối thế kỷ I
  • Bố cục:
    • Nhập đề mối tương giao có thật
    • Điều kiện cho sự tương giao
    • Tính ưu thắng của sự tương giao
    • Kẻ thù của sự tương giao
    • Lý do cần phải tương giao
    • Trắc nghiệm sự tương giao
    • Phân biệt sự tương giao
    • Thực hành sự tương giao
    • Nền tảng của sự tương giao
    • Đặc quyền của sự tương giao
  • Đặc điểm: Giăng miêu tả Thượng đế là ánh sáng và tình yêu

11.4. II Giăng

  • Mục đích và nội dung:
    • Hai thư II III Giăng dường như nằm trong những thư từ các nhân của Giăng Cả hai đều gửi cho cá nhân
    • Chữ chìa khóa của thư là “chân lý”
  • Bố cục:
    • Chào thăm
    • Bước đi trong chân lý
    • Điều luật của Đức Chúa Cha
    • Nhắn nhủ những kẻ phỉnh gạt
    • Kết luận

11.5. III Giăng

  • Mục đích và nội dung:
    • Người nhận thư: Gai-út
    • Chữ chìa khóa là “hiếu khách”
    • Giăng sẽ có biện pháp kỷ luật với Đi-ô-trép
    • Đê-mê-tri-út được khen ngợi
  • Bố cục:
    • Chào thăm
    • Cầu nguyện cho sức khỏe của Gai-út
    • Khen ngợi tinh thần hiếu khách của Gai-út
    • Lên án đường lối của Đi-ô-trép
    • Khen ngợi tánh tình Đê-mê-tri-út
    • Kết luận

CHƯƠNG 12: SÁCH KHẢI THỊ

12.1. Đặc điểm của các loại sách Khải huyền

  • Thường viết trong thời kỳ rối loạn, buồn nản
  • Chuyên chở sứ điệp bằng ký hiệu, biểu tượng, giấc mơ, thị tượng
  • Lời hứa thiện sẽ thắng ác

12.2. Bối cảnh

  • Những hãm hại và khó khăn đang đe dọa Hội thánh
  • Thời gian viết khoảng năm 90-95 SC

12.3. Các phương pháp thông giải

  • Phương pháp quá khứ
  • Phương pháp lịch sử
  • Phương pháp tương lai
  • Phương pháp biểu ý

12.4. Cấu trúc quyển sách: 4 thị tượng của Giăng

12.5. Bố cục

  • Nhập đề
  • Thị tượng 1: Chúa Chí tôn và bảy Hội thánh
  • Thị tượng 2: Chúa Chí tôn và các cuộc phán xét trái đất
  • Thị tượng 3: Chúa Chí tôn và những chiến thắng của Ngài
  • Thị tượng 4: Chúa Chí tôn và tân nương của Ngài

12.6. Ba loạt phán xét

Posted in Tham khảo

Có đáng tin chăng?

Trên mạng Internet hiện nay có rất nhiều nguồn (tiếng Anh hay Việt) để nghiên cứu Kinh Thánh và thần học. Ở mục này, tui mạn phép ghi xuống một số website, ứng dụng, nguồn sách mà bản thân thường tra cứu, tui vẫn đang tìm hiểu và học hỏi nên không tránh khỏi khả năng có sai sót.

Xin Chúa Thánh Linh soi sáng để chúng ta có thể tận dụng và học biết Lời Chúa, đồng thời được sự khôn ngoan để nhìn rõ nếu có những mưu chước ẩn giấu trong những nguồn dường như là Tin Lành nhưng thực chất là bẫy rập.

Posted in Tóm tắt sách

Tân Ước căn bản

Tác giả: không rõ

Nguồn: có thể tìm đọc trong VietBible

PHẦN 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TRƯỚC TÁC TÂN ƯỚC

I. Công cuộc chuẩn bị người Do Thái

  1. Đặc ơn: được chọn nhưng họ đã thất bại
  2. Đại tản lạc và ảnh hưởng: bị Nê-bu-cát-nết-sa bắt làm phu tù qua xứ Ba-by-lôn năm 587 TC, từ đó tản lạc khắp thế giới.
    • Truyền bá đặc điểm Do Thái: độc thần và Luật pháp Thượng đế
    • Năm 250-150 TC, bộ Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ được dịch ra tiếng Hy Lạp tại Ai Cập, gọi là bản Bảy mươi (Septuangint)
  3. Đảng tôn giáo Do Thái: đảng Sa-đu-sê và đảng Pha-ri-si

II. Công cuộc chuẩn bị người Hy Lạp

  1. Một ngôn ngữ và một thế giới là tham vọng của Alexandre đại đế
  2. Ảnh hưởng ngôn ngữ Hy Lạp cung cấp phương tiện truyền bá sứ điệp Cơ đốc

III. Công cuộc chuẩn bị người La Mã

  1. Đặc tính đế quốc La Mã: duy trì luật pháp và trật tự, lãnh thổ kéo dài rộng khắp
  2. Ảnh hưởng tổ chức La Mã: tạo được một thời kỳ hòa bình (triều Cesar Augustus) và hệ thống đường sá hoàn chỉnh. Tuy nhiên, có sự suy đồi về luân lý và tôn giáo

IV. Palestine vào thế kỷ đầu tiên

  1. Chính quyền Do Thái
  2. Chính quyền La Mã
  3. Tổ chức tôn giáo Do Thái
  4. Bối cảnh

V. Công cuộc trước tác Tân Ước

  1. Chia theo thời gian
  2. Chia theo văn thể: sử ký, thư tín và tiên tri

PHẦN 2: CÁC SÁCH PHÚC ÂM CỘNG QUAN

Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca là ba sách Phúc Âm cộng quan vì có cùng quan điểm về đời sống Chúa Jesus

I. Phúc Âm Ma-thi-ơ

  • Tác giả: theo truyền thuyết là Ma-thi-ơ (còn được gọi Lê-vi), người thu thuế
  • Mục đích và nội dung: trình bày cho độc giả Do Thái rằng Chúa Jesus là Đấng Mê-si, đề cập đến nước thiên đàng, là nhịp cầu giữa Cựu Ước và Tân Ước
  • Những bài giảng luận của Chúa
  • Bố cục: (1) Giới thiệu Vua, (2) Đòi hỏi của Vua, (3) Công việc của Vua, (4) Chương trình của Vua, (5) Số phận của Vua, (6) Vấn đề của Vua, (7) Sự chết và phục sinh của Vua, (8) Ủy nhiệm cuối

II. Phúc Âm Mác

  • Tác giả: Mác không phải sứ đồ, quê quán Giê-ru-sa-lem, em họ Ba-na-ba, cộng sự viên của các sứ đồ và của Phao-lô
  • Mục đích và nội dung: trình bày cho độc giả La Mã rằng Chúa Jesus là “đầy tớ Đức Giê-hô-va”, về “sự chết và phục sinh của Ngài”
  • Bố cục: Chủ đề hoạt động của Đấng Christ với các hành trình và ba lần công bố về sự khổ nạn

III. Phúc Âm Lu-ca

  • Tác giả: Lu-ca không phải sứ đồ, là y sĩ, bạn đồng hành của Phao-lô
  • Mục đích và nội dung: trình bày cho độc giả Hy Lạp rằng Chúa Jesus là “Con Người” lý tưởng, điều tìm kiếm của người Hy Lạp
  • Bố cục: (1) Mục đích, (2) Chuẩn bị của Con Người, (3) Thánh vụ ở Ga-li-lê, (4) Thánh vụ ở Bê-rê, (5) Thánh vụ ở Giê-ru-sa-lem, (6) Thánh vụ khổ nạn, (7) Thánh vụ phục sinh

IV. Những đặc điểm chung

  • Điểm chung là lời dạy và các biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Jesus

V. Những nét đặc biệt khác

  • Sự ra đời phi thường của Chúa Jesus
  • Các ngụ ngôn của Ngài
  • Nước Thượng Đế
  • Các phép lạ

PHẦN 3: PHÚC ÂM GIĂNG

I. Tác giả

  • Theo truyền thuyết là Giăng, con Xê-bê-đê, em Gia-cơ, là môn đồ “được Chúa yêu”

II. Mục đích và nội dung

  • Ghi chép những “Dấu lạ”
  • Hầu cho các ngươi TIN
  • Nhờ Danh Ngài mà được “Sự sống”

III. Bố cục

  • Nhập đề
  • Thánh vụ công khai
  • Thánh vụ riêng tư
  • Thánh vụ khổ nạn
  • Kết luận

IV. Những điều dạy dỗ của Chúa

  • Liên hệ giữa dấu lạ và sự dạy dỗ
  • Bảy điều “Ta là”: Bánh sự sống; Ánh sáng thế gian; Cái cửa; Người chăn tốt; Sự sống lại và sự sống; Đường đi, chân lý và sự sống; Gốc nho thật. Ngoài ra, là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu

V. Hội kiến cá nhân

  • Anh-rê; Phi-e-rơ; Ni-cô-đem; Phi-líp; người đàn bà Sa-ma-ri; người mù; Ma-thê và Ma-ri; Thô-ma, Phi-lát và Giu-đa

VI. Bài giảng nơi Phòng cao

  • 92% chỉ có ở sách Giăng
  • Chúa dạy hai điều: Ngài đi sắm chỗ cho họ; Đức Thánh Linh sẽ đến với họ làm Đấng yên ủi và giáo sư đưa họ vào mọi lẽ thật, là nguồn quyền năng để làm chứng nhân cho Chúa

VII. Nhập đề và Kết luận

PHẦN 4: SÁCH CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ

Đây là sách thứ hai của Lu-ca viết về lịch sử Cơ đốc giáo, miêu tả sinh hoạt Hội thánh sơ khai

I. Mục đích

  • Động cơ lịch sử
  • Động cơ giáo lý
  • Động cơ biện giáo
  • Động cơ tiểu sử

II. Bố cục

  • Câu chìa khóa Lu-ca 1:8
  • Bố cục

III. Tin Lành tại Giê-ru-sa-lem

  • Nhân vật chính: Phi-e-rơ
  • Điểm nổi bật: tinh thần hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân trong mọi sinh hoạt
  • Chấp sự Ê-tiên, anh hùng đức tin, là người tuận đạo đầu tiên

IV. Tin Lành tại Giu-đê và Sa-ma-ri

  • Chấp sự Phi-líp, đến Sa-ma-ri mang kết quả khả quan
  • Tin Lành cho người ngoại bang
  • Sau-lơ quy đạo

V. Tin Lành ở những xứ xa

  • Căn cứ địa truyền giáo: An-ti-ốt xứ Sy-ri
  • Hội thánh An-ti-ốt

VI. Các hành trình của Phao-lô

  • Địa điểm: hành trình 1 tập trung ở Ga-la-ti, hành trình 2 ở Ma-xê-đoan và A-chai, hành trình 3 ở tỉnh A-si
  • Tình huống và thính giả
  • Trình bày sứ điệp
  • Bị bắt và bỏ tù

VII. Liên hệ giữa Công vụ với các Phúc Âm và Thư tín

  • Là gạch nối giữa Phúc Âm và Thư tín
  • Hoàn tất câu chuyện Phúc Âm
  • Ứng nghiệm lời tiên tri của Chúa về Hội thánh
  • Dọn đường cho Thư tín
  • Soi sáng nguyên tắc sinh hoạt Hội thánh

PHẦN 5: CUỘC ĐỜI PHAO-LÔ

I. Thân thế của Phao-lô

  • Người Do Thái: sinh ra trong gia đình Do Thái tại Tạt-sơ, tỉnh Si-li-si, chi phái Bên-gia-min
  • Tôn giáo: học với Ga-ma-li-ên, một giáo sư lỗi lạc thuộc trường phái Hillel tại Giê-ru-sa-lem
  • Văn hóa: ông là người Hy Lạp, quen thuộc với văn hóa Hy Lạp, là học giả biết nhiều phương ngôn cổ điển và đương thời
  • Công dân La Mã

II. Phao-lô quy đạo

  • Chống Chúa: đồng tình với đám đông giết Ê-tiên
  • Gặp Chúa trên đường Đa-mách: ông lui về Ả Rập và Đa-mách một thời gian trước khi đi Giê-ru-sa-lem. Sau đó ông trở về quê hương trong khoảng 8-10 năm trước khi được Ba-na-ba mời về An-ti-ốt xứ Sy-ri để hầu việc Chúa

III. Thánh vụ của Phao-lô

  • Thánh vụ truyền giáo
  • Thánh vụ viết thư: thư tín của ông có thể chia thành bốn nhóm
    • Thư tín tận thế học (I và II Tê-sa-lô-ni-ca, khoảng năm 50-51 SC)
    • Thư tín cứu thục học (I và II Cô-rinh-tô, Ga-la-ti và Rô-ma, khoảng năm 55-58 SC)
    • Thư tín Cơ đốc học (Cô-lô-se, Phi-lê-môn, Ê-phê-sô và Phi-líp, khoảng năm 60-62 SC, còn gọi là Thư tín trong tù)
    • Thư tín Giáo hội học (I và II Ti-mô-thê, Tít, khoảng năm 63-67 SC)

IV. I Tê-sa-lô-ni-ca

  • Bối cảnh: thành lập Hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca, sau đó từ Cô-rinh-tô ông viết thư cho tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca đang bị bắt bớ sau khi được Ti-mô-thê cho biết tin mừng về Hội thánh
  • Bố cục: (1) lời chào thăm, (2) lời cảm tạ, (3) bênh vực Thánh vụ, (4) nếp sống Cơ đốc, (5) kết luận
  • Mục đích và nội dung: tâm tình, khích lệ, an ủi, khuyên dạy

V. II Tê-sa-lô-ni-ca

  • Bố cục: (1) lời chào thăm, (2) dự báo về ngày của Chúa, (3) miêu tả ngày của Chúa, (4) khuyên cầu nguyện và cư xử tốt đẹp, (5) kết luận
  • Mục đích và nội dung: giải đáp thắc mắc, giáo huấn, khích lệ, khuyên bảo thực tiễn

PHẦN 6: THƯ TÍN PHAO-LÔ VỀ CỨU THỤC HỌC (I & II CÔ-RINH-TÔ)

Thư tín I và II Cô-rinh-tô được xếp vào nhóm Cứu thục học vì phần lớn nói về sự cứu rỗi. Tư tưởng trọng tâm là niềm tin trong Chúa và sự tận hiến cho Ngài. Thư đầu viết từ Ê-phê-sô, thư sau có lẽ từ Ma-xê-đoan

I. I Cô-rinh-tô

  • Bối cảnh: Phao-lô đến Cô-rinh-tô lần đầu trong chuyến truyền giáo thứ hai. Sau đó ông lìa Cô-rinh-tô đi Ê-phê-sô. Từ Ê-phê-sô ông viết thư tín này
  • Bố cục: (1) lời mở đầu, (2) trả lời báo cáo của Cơ-lô-ê, (3) trả lời thư Hội thánh Cô-rinh-tô, (4) kết luận
  • Mục đích và nội dung
    • Quan niệm chính: sự cứu chuộc phải áp dụng cho nếp sống hàng ngày, sự sống mới trong Chúa phải toát thành nếp sống
    • Thẩm quyền Hội thánh
    • Các vấn đề khác: dâm dục, kiện tụng, quan hệ tín hữu, thánh khiết trong hôn nhân, lương tâm, Thánh vụ phụ nữ và điều kiện dự Tiệc thánh, ân tứ, giáo lý Phục sinh, sự dâng hiến

II. II Cô-rinh-tô

  • Mục đích: bênh vực thánh vụ và chức vụ sứ đồ, kêu gọi tín hữu làm trọn thiên chức ban phát
  • Bố cục: (1) lời chào thăm, (2) Thánh vụ Cơ đốc, (3) vấn đề dâng hiến, (4) vấn đề người phục vụ Cơ đốc, (5) kết luận
  • Bối cảnh: tại Ma-xê-đoan ông vui mừng khi nghe phúc trình của Tít, tuy nhiên vẫn có một số vấn đề không thuận lợi nên ông bộc lộ tâm tình qua thơ II Cô-rinh-tô
  • Đặc điểm: ngoài những điểm cá nhân, Phao-lô xác nhận nhiều giáo lý quan trọng như Phẩm tính và công việc của Thượng đế, đối chiếu giao ước cũ và giao ước mới, tình trạng tương lai, thánh vụ giải hòa và sự quản lý tiền bạc của tín hữu

PHẦN 7: THƯ TÍN PHAO-LÔ VỀ SỰ CỨU RỖI

I. Thư Ga-la-ti

  • Bối cảnh:
    • Thời gian: có thể là thư tín sớm nhất của Phao-lô, viết sau chuyến truyền giảng thứ nhất khoảng năm 48-49
    • Nơi nhận: Ga-la-ti có thể hiểu theo hai cách (1) lãnh thổ miền đông Tiểu Á nơi người Gaul định cư vào thế kỷ thứ ba, (2) lãnh thổ do La Mã nới rộng thêm vùng đất phía nam
  • Mục đích:
    • Bày tỏ sự ngạc nhiên khi tín hữu bỏ lòng trung thành
    • Lên án những kẻ xuyên tạc Tin Lành
    • Giãi bày Thượng đế xưng công bình bởi đức tin chứ không bởi việc làm
    • Đấng Christ đã giải thoát chúng ta khỏi sự trói buộc của luật pháp
  • Bố cục và nội dung: (1) lời mở đầu, (2) nội dung: Tin Lành được mặc khải, Tin Lành được dự ngôn, Tin Lành ứng dụng, (3) kết luận

II. Thư La Mã

  • Bối cảnh: trong chuyến truyền giáo thứ ba trước khi lìa Cô-rinh-tô, ông viết thơ Rô-ma thay cho cuộc thăm viếng và gửi thơ qua Phê-bê
  • Bố cục và nội dung: (1) phần nhập đề, (2) nội dung: Nhu cầu được cứu chuộc, Sự cung ứng của Thượng đế, Hiệu quả của sự cứu chuộc, Phạm vi của sự cứu chuộc, Bông trái của sự cứu chuộc, (3) kết luận

PHẦN 8: THƯ TÍN TRONG TÙ CỦA PHAO-LÔ

I. Thư Cô-lô-se

  • Bối cảnh: thành phố Cô-lô-se nhỏ và kém quan trọng hơn Ê-phê-sô, chịu ảnh hưởng nhiều ý thức hệ đối chọi nhau
  • So sánh với thư Ê-phê-sô:
    • Giống: nhấn mạnh địa vị Đấng Christ và Hội thánh là thân thể Ngài, áp dụng Tin Lành trong thực tế
    • Khác: Cô-lô-se chú trọng địa vị hàng đầu của Đấng Christ, Ê-phê-sô chú trọng bản chất của Hội thánh
  • Mục đích và nội dung:
    • Nhấn mạnh địa vị ưu việt của Đấng Christ trong 4 mối tương quan với Thượng đế, với tạo vật, với Hội thánh và với công cuộc cứu chuộc
    • Phân tích sự sai lầm của giáo lý giả (triết học duy lý, tôn giáo duy luật, khiêm nhường giả hiệu)
    • Nhấn mạnh sự cần yếu của nếp sống mới

II. Thư Phi-lê-môn

  • Bối cảnh: là thí dụ điển hình trong cách giao thiệp của Phao-lô, đi kèm với thư Cô-lô-se, là bức thư Cơ đốc nhờ giúp nhau trong mối liên hệ với Chúa
  • Mục đích:
    • Nguyên lý sự tha thứ và phục hồi trên căn bản thay thế để xin Phi-lê-môn tha thứ cho Ô-nê-sim, nhận lại như anh em yêu dấu
    • Nguyên lý quy kết (công tác một người được kể cho người khác)

III. Thư Ê-phê-sô

  • Bối cảnh: thành phố Ê-phê-sô tự cho là hàng đầu A-si, Hội thánh Ê-phê-sô có thể ăn “thức ăn cứng” và vấn đề tà linh, “bỏ lòng kính mến ban đầu”, Ti-mô-thê được đặt để tiếp nối công tác và đối đầu các giáo sư giả
  • Bố cục: chủ đề trung tâm “Hội thánh là thân thể của Đấng Christ”
  • Mục đích và nội dung:
    • Người tin Chúa là thánh (địa vị) và trung tín (đặc tính)
    • Hội thánh được hình thành do sự tuyển lựa, được cứu chuộc và đóng ấn bằng Đức Thánh Linh
    • Hội thánh được kêu gọi trở nên Nhà lớn gồm cả Do Thái lẫn dân ngoại
    • Người Cơ đốc phải bước đi xứng đáng trong sự yêu thương, thánh khiết, khôn ngoan như chi thể của thân Chúa
    • Phải chiến tranh với thế lực tối tăm bằng khí giới của Thượng đế

IV. Thư Phi-líp

  • Bối cảnh: Phi-líp là thành Âu Châu đầu tiên nghe Tin Lành
  • Bố cục: chủ đề Tin Lành và từ khóa Vui mừng
  • Mục đích và nội dung:
    • Khuyên hiệp một trong khiêm nhường và trưởng thành trong Chúa
    • Giáo lý về sự nhập thể và tôn cao của Chúa Jesus và áp dụng trên Phao-lô
    • Gương sống của Chúa Jesus

PHẦN 9: THƯ TÍN MỤC VỤ CỦA PHAO-LÔ

I & II Ti-mô-thê cùng Tít là nhóm thư tín cuối cùng của cuộc đời Phao-lô khoảng năm 63-67, được gọi là thư tín Mục vụ vì nhấn mạnh trách nhiệm và chức năng của Mục sư

I. I Ti-mô-thê

  • Bối cảnh: Ti-mô-thê quy đạo, sau đó tháp tùng Phao-lô và được để lại Ê-phê-sô để chỉnh đốn công việc về giáo lý và tổ chức. Từ La Mã, Phao-lô viết thư cho Ti-mô-thê
  • Mục đích: nhấn mạnh trách nhiệm Ti-mô-thê phải làm tròn và nhấn mạnh việc dạy dỗ tổ chức quản lý Hội thánh
  • Đặc điểm: Hội thánh lý tưởng phải là Hội thánh có nếp sống cầu nguyện đàng hoàng, có tổ chức đàng hoàng và được quản trị đàng hoàng

II. Tít

  • Bối cảnh: Tít quy đạo, được xem là “chuyên gia giải quyết công việc”, được Phao-lô để lại Cơ-rết để tổ chức, quản lý và dạy dỗ
  • Mục đích và nội dung:
    • Nan đề tại Cơ-rết: giáo sư giả và nếp sống lơi lỏng đạo đức cùng tinh thần lười nhác
    • Giải quyết nan đề: Giáo lý lành mạnh, Giáo lý Cứu rỗi, Giáo lý về Thượng đế, điều kiện về trưởng lão (giám mục)

III. II Ti-mô-thê

  • Bối cảnh: Phao-lô viết thư trong lúc đợi án tử hình chứ không mong được trả tự do
  • Mục đích và nội dung:
    • Lời cuối của Phao-lô trong Tân Ước
    • Tâm tình đối với Ti-mô-thê và các công tác mục vụ tại Ê-phê-sô
  • Đặc điểm:
    • Thánh vụ Cơ đốc
    • Tính chất Kinh Thánh
    • Lời nhắn nhủ

PHẦN 10: HỘI THÁNH VÀ SỰ ĐAU KHỔ (GIA-CƠ, HÊ-BƠ-RƠ, I PHI-E-RƠ)

Tình trạng chung là vào thế kỷ đầu, nhiều nơi nhiều lúc Hội thánh phải chịu đau khổ do nhiều lý do khác nhau dễ khiến nản lòng

I. Gia-cơ

  • Tổng quan: là sách thực tế nhất bàn về những vấn đề hàng ngày (nói năng, buôn bán, các mối quan hệ…) và nêu lên đức tin ứng dụng
  • Tác giả: theo lời tự giới thiệu là Gia-cơ, tôi tớ của Thượng đế và của Chúa Jesus (tuy nhiên, có nhiều người tên là Gia-cơ, theo truyền thuyết đây là Gia-cơ em Chúa)
  • Mục đích và nội dung:
    • Mở đầu: nhấn mạnh sự vui mừng trọn vẹn giữa đau khổ cũng như sự vui mừng cảm tạ trong mọi hoàn cảnh
    • Vấn đề thử thách: mục đích thử thách là đem nhẫn nhục và trọn lành
    • Đức tin và việc làm: đức tin thật phải sinh sản, sống là phải động

II. Hê-bơ-rơ

  • Chủ đề:
    • Trọng tâm là kêu gọi tín hữu tiến đến sự trọn lành
    • Cảnh cáo nguy cơ của sự vô tín, ấu trĩ và bội đạo
    • Nhấn mạnh địa vị ưu việt của Chúa Jesus
  • Tác giả: có thể là Phao-lô, hoặc Ba-na-ba, Lu-ca, A-bô-lô
  • Mục đích và nội dung:
    • Hai chủ đề song song là Sự cao trọng của Chúa Jesus và Cuộc sống đức tin của các tín hữu
    • Lời mở đầu: tóm tắt toàn bộ mặc khải của Thượng đế
    • Chủ đề đức tin
    • Lời cảnh cáo

III. I Phi-e-rơ

  • Bối cảnh:
    • Độc giả: người được chọn đang tản lạc, chịu hoạn nạn bắt bớ
    • Đau khổ: dùng 10 lần chỉ về số phận của tín đồ, thử thách chép 2 lần
    • Hy vọng: Chúa có chủ đích khi cho phép khó khăn xảy ra
  • Tác giả: Phi-e-rơ quy đạo, được chọn làm sứ đồ và trở thành lãnh tụ Hội thánh
  • Mục đích và nội dung:
    • Chịu khổ: chứng tỏ đức tin thật và chúng ta được khen ngợi
    • Lời khuyên: hãy chịu khổ theo ý Đức Chúa Trời
    • Hy vọng: chính Chúa sẽ làm cho anh em toàn hảo, vững lập và mạnh mẽ
    • Mệnh lệnh: sống cho Thượng đế là một đòi hỏi thật sự

PHẦN 11: HỘI THÁNH VÀ TÀ GIÁO (II PHI-E-RƠ, GIU-ĐE, I II III GIĂNG)

Năm bức thư ngắn này cùng quan tâm đến những điều dạy dỗ giả trá về giáo lý và luân lý Cơ đốc

  • II Phi-e-rơ và Giu-đe cảnh cáo kẻ khinh thị quyền bính của Chúa và Lời Ngài
  • Ba bức thư của Giăng (vô danh) chống lại Trí huệ giáo lúc ấy đã là giáo lý có hệ thống. Họ cho mình có tri thức thần bí hơn người để đạt sự cứu rỗi với quan niệm lệch lạc về Chúa Jesus và bản chất vạn vật. Giăng gọi đó là tinh thần chống Đấng Christ

I. II Phi-e-rơ

  • Tác giả: Phi-e-rơ
  • Chủ đề: Lời Thượng đế là chân thật và là tiêu chuẩn cho nếp sống Cơ đốc. Từ chìa khóa “Tri thức”
  • Bố cục: (1) Nhập đề, (2) Tri thức và nếp sống Cơ đốc, (3) Tri thức và Lời Thượng đế, (4) Tri thức và giáo lý giả, (5) Tri thức và Chúa tái lâm, (6) Đứng vững và lớn lên
  • Mục đích và nội dung:
    • Lời mở đầu: trách nhiệm người tin là phải tự tìm đến nguồn cung ứng thiên thượng
    • Giải luận chính:
      • Lời Thượng đế bởi Đức Thánh Linh ban cho
      • Con đường giáo sư giả cùng kẻ theo họ sẽ dẫn đến sự phán xét
      • Sự tái lâm bày tỏ uy danh và mục đích của Chúa
    • Lời kêu gọi

II. Giu-đe

  • Tác giả: Giu-đe em Gia-cơ, viết sau II Phi-e-rơ vào khoảng năm 75-80
  • Chủ đề:
    • Đức tin đã truyền cho các thánh một lần đủ cả
    • Giáo lý không tách rời khỏi đời sống
  • Bố cục: (1) Chào thăm, (2) Lời khuyên bảo vệ đức tin, (3) Minh giải tẻ tách đức tin, (4) Khuyên nhủ tiến bộ trong đức tin, (5) Lời ca tụng
  • Mục đích và nội dung: cũng như II Phi-e-rơ, Giu-đe dùng Cựu Ước soi sáng tình trạng vô đạo và sự phán xét của Thượng đế trên họ

(Sách trong VietBible thiếu phần viết về I II III Giăng và Khải huyền)

Posted in Tham khảo

Các nguồn tiếng Việt

1/ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM

  • Website: https://httlvn.org/
  • Nội dung:
    • Bài học Kinh Thánh hàng ngày
    • Giải đáp niềm tin, bài viết dưỡng linh, tư vấn Cơ đốc…
    • Nghiên cứu tìm hiểu Kinh Thánh, Thánh Kinh lược khảo

2/ VIETBIBLE

  • Link tải phần mềm Vietbible cho máy tính: https://viet.bible/
  • Nội dung:
    • So sánh các bản dịch khác nhau của Kinh Thánh
    • 630 đầu sách Cơ đốc nhiều thể loại (giáo khoa, giải nghĩa, bồi linh, làm chứng…)

3/ NHU LIỆU THÁNH KINH

  • Website: http://www.nhulieuthanhkinh.com/
  • Nội dung:
    • Bài học Kinh Thánh hàng ngày, bài viết dưỡng linh theo Mục sư Rick Warren
    • Các sách tra cứu về Thánh Kinh lược khảo, Niên đại Kinh Thánh, Tự điển Cadman, Danh nhân Cơ đốc…
    • Một số nguồn nghiên cứu thần học (Olsen, Charles C. Ryrie…)
    • Bản đồ Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước

4/ THƯ VIỆN THẦN HỌC VIỆT NAM

  • Website: https://www.uuc.edu/thuvien/
  • Nội dung:
    • Tìm địa chỉ Kinh Thánh
    • Nhiều đầu sách Cơ đốc (tham khảo, giáo khoa) (có thể trùng lặp với VietBible)

5/ YOUTUBE – GDVN ULSAN VFU

  • Link: https://www.youtube.com/@gdvnulsanvfu4283/
  • Nội dung:
    • Các bài giảng theo chủ đề:
      • Cám dỗ và Thử thách
      • Đức Chúa Trời Ba Ngôi
      • Giao ước
      • Truyền giáo di dân
      • Đức Thánh Linh và Đại sứ mệnh
      • Đồng ruộng thiêng liêng
      • Gia đình và Lời Chúa
      • Sự ngợi khen và thờ phượng trong Thi thiên…
    • Các bài giảng theo từng sách trong Kinh Thánh

6/ YOUTUBE – TRƯỜNG KINH THÁNH VIỆT HÀN

  • Link: https://www.youtube.com/@TruongVKBS/
  • Nội dung:
    • Hành trình xuyên Kinh Thánh
    • Đời sống Cơ đốc
    • Cựu Ước lược khảo
    • Tân Ước lược khảo
    • Giáo phái và Tà giáo
    • Thời kỳ lưu đày và hậu lưu đày
    • Tuyên đạo pháp…

(còn cập nhật)

Posted in Tham khảo

Các nguồn tiếng Anh

1/ THE BIBLICAL TIMELINE

  • Website: http://timeline.biblehistory.com/home
  • Nội dung:
    • Chi tiết thời gian từng giai đoạn trải dài từ Cựu Ước đến Tân Ước
    • Giải nghĩa cụ thể về các nhân vật, sự kiện, phần Kinh Thánh đề cập
    • Có liên kết với website Bible Universe (https://www.bibleuniverse.com/study-tools/storacles) với rất nhiều hỗ trợ để học Kinh Thánh

2/ BIBLE UNIVERSE

  • Website: https://www.bibleuniverse.com/
  • Nội dung:
    • Những câu chuyện, bài học Kinh Thánh qua nhiều thứ tiếng
    • Các bài viết phân tích
    • Các công cụ học Kinh Thánh
    • Những bài thánh ca tiếng Anh (có thể tải về dạng file PDF có hợp âm hoặc file karaoke để tôn vinh)

3/ ANSWERS IN GENESIS

  • Website: https://answersingenesis.org/
  • Nội dung:
    • Rất nhiều bài viết, câu trả lời, thảo luận về những chủ đề trong Kinh Thánh
    • Nhiều sách online có thể đọc miễn phí (https://answersingenesis.org/answers/books/)
    • Có liên kết với một số trang web về giáo dục Cơ đốc cho thiếu nhi (https://answersingenesis.org/education/)

4/ BIBLICAL ELEARNING

  • Website: https://biblicalelearning.org/
  • Nội dung:
    • Tài liệu về xứ thánh và tiếng Hê-bơ-rơ, tiếng Hy Lạp
    • Nghiên cứu Cựu Ước, Tân Ước và lịch sử
This image has an empty alt attribute; its file name is TK-Biblical-eLearning-1024x503.jpg

5/ BIBLWORLD

  • Website: https://www.biblword.net/
  • Nội dung:
    • Hơn 700 bài viết về các chủ đề khác nhau trong Kinh Thánh (Chúa Jesus, Đức Thánh Linh, sự cầu nguyện, đời sống Cơ đốc, hôn nhân và tình dục…)
    • Bài đọc dưỡng linh hàng ngày
    • Các khóa học Cơ đốc miễn phí (Thánh Kinh căn bản, Cuộc đời Chúa Jesus, Đồng đi với Chúa…)

(còn cập nhật)