Posted in Tóm tắt sách

Sứ điệp Cựu Ước

Tác giả: Viện Thần học Việt Nam

Nguồn: có thể tìm đọc trong VietBible

CHƯƠNG 1: NAN ĐỀ CỦA CỰU ƯỚC

1.1. Những nan đề của Cựu Ước

  • Giá trị của Cựu Ước không được nhận biết, có thể do nhiều lý do:
    • Thế giới Cựu Ước và nếp suy tư cách biệt chúng ta hơn là Tân Ước
    • Nhiều đoạn của Cựu Ước được dịch khó hiểu
    • Cựu Ước quá dài (gấp ba Tân Ước)
    • Cựu Ước không có nguyên tắc quán nhất rõ ràng (để kết nối các sự kiện cách mạch lạc hợp lý)

1.2. Những sợi canh chỉ trong Cựu Ước

  • Cựu Ước gồm nhiều sợi canh chỉ không hề đan dệt lại với nhau. Chúng có sự hòa hợp nhưng không phải là thống nhất, cùng hướng về một tiêu điểm là Chúa Jesus
  • Vì tính cách đa tạp và khác lạ của Cựu Ước nên ta không lấy làm lạ nếu chỉ dùng riêng một phương pháp không đủ mở cho ta tất cả kho tàng chôn giấu trong Cựu Ước

CHƯƠNG 2: MẶC KHẢI BAN SƠ

  • Chúng ta không thể biết được Sáng 1:1-2:3 đã được mặc khải như thế nào. Không có bằng chứng nào cho thấy mặc khải đó có trong ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Hê-bơ-rơ và ít có học giả bảo thủ nào chịu gán cho nó một nhân vật nào kém hơn Môi-se
  • Có nhiều bằng chứng về ngôn ngữ học cũng như ở phương diện khác cho ta nghĩ rằng Áp-ram đã mang chúng theo, không nhất thiết bằng văn tự khi đi từ Ha-ran vào Ca-na-an
  • Tác giả không quả quyết rằng chỉ có tổ phụ của Áp-ram mới lưu giữ những câu chuyện đó cách thuần vẹn mà chỉ tin rằng Đức Thánh Linh đã kiểm soát sự ghi chép để tránh những sai lầm

2.1. Vị trí của nó trong Cựu Ước

  • Sáng 1:1-11-32 hiệp thành một bộ phận thống nhất và thiết yếu trong câu chuyện cứu chuộc
  • Các gia phả có công dụng nhắc nhở cho dân Y-sơ-ra-ên cũng như Hội thánh sau này rằng thế giới không tự nó tồn tại, và Đức Chúa Trời vẫn để tâm chăm sóc tất cả
  • Ngoài gia phả, các câu chuyện còn lại chứa đựng những chân lý làm nền tảng và là một phần thiết yếu để giải thích những việc xảy ra sau đó

2.2. Nước lụt và tháp Ba-bên

  • Ê-sai bắt đầu những lời tiên tri bằng sự kiện Ba-by-lôn sụp đổ, dường như không liên quan đến thời đại của ông. Chúng ta sẽ nắm được ý nghĩa của lời tiên tri khi hiểu rằng đối với Ê-sai, Ba-by-lôn không phải chỉ là một thành phố mà là hình ảnh xã hội loài người được nhân cách hóa, kiêu căng nổi lên chống lại Đức Chúa Trời. Ê-sai có thể nhân cách hóa được là nhờ câu chuyện tháp Ba-bên trong Sáng 11:1-32 đã vẽ nên đặc tính tiêu biểu cho thành đó
  • Câu chuyện nước lụt cũng lưu lại đằng sau Cựu Ước một ký ức kinh khiếp. Ngoài Sáng, câu chuyện còn được nhắc lại trong Thi thiên 29:10, Ê-sai 54:9, Thi thiên 89:37

2.3. Sự sa ngã của loài người

  • Lời xưng tội nếu là một câu nói thành thật thì có lẽ là câu mà con người khó nói và ít nói hơn hết. Sự thất bại hoàn toàn của Y-sơ-ra-ên vẫn không đủ để dạy con người bài học này
  • Dù các vị thánh trong Cựu Ước không thể đạt được ý thức về tội lỗi như trong Tân Ước, họ rất sẵn sàng nhìn nhận tội lỗi mình, có thể họ đã nhận thức được họ thuộc về một dòng giống sa ngã
  • Chết không phải là điều tự nhiên hay cánh cửa đi tới điều tốt hơn, nhưng là hậu quả không thể tránh được của những điều con người đã làm

2.4. Cuộc sáng tạo và vườn địa đàng

  • Đức Giê-hô-va tự mặc khải chính Ngài kiểm soát mọi sự và không bị bất cứ một cái gì chi phối. Sự thờ hình tượng bị bắt gặp nhiều lần trong Cựu Ước không phải là bỏ Đức Chúa Trời để thờ các thần khác mà là đem Chúa vào trong các tạo vật của Ngài và đặt Ngài dưới sự kiểm soát của chúng

CHƯƠNG 3: CÁC THÁNH TỔ

3.1. Bối cảnh của Sáng thế ký 12-50

  • Con người phải sống trong xã hội và là thành phần của xã hội ấy, nhưng trước hết họ phải sống trong tương giao với Đức Chúa Trời. Do đó, trước khi gặp xã hội Y-sơ-ra-ên do Đức Chúa Trời thiết lập, chúng ta thấy hình ảnh các vị thánh tổ trong tương giao với Ngài
  • Các thánh tổ là những mẫu người đức tin

3.2. Áp-ra-ham

  • Chúng ta biết rất ít về con đường dẫn ông đến đức tin. Điều quan trọng không phải là chúng ta đến với đức tin bằng cách nào mà là chúng ta bước đi trong đức tin như thế nào
  • Đức tin của Áp-ra-ham biểu lộ trong ba chiều hướng đặc biệt:
    • Vâng phục
    • Tin cậy nơi quyền năng giữ gìn của Đức Chúa Trời
    • Sẵn lòng tin vào mục đích tương lai của Đức Chúa Trời
  • Vẫn tồn tại những nhược điểm trong đức tin Áp-ra-ham (nghi ngờ sự bảo vệ của Chúa tại Ai Cập, nghi ngờ phần nào lời hứa của Chúa nên đến với A-ga)

3.3. Y-sác

  • Hai đặc điểm trong đời sống Y-sác:
    • Sẵn sàng làm nạn nhân hy sinh
    • Sẵn sàng tiếp nối lối sống của cha mình
  • Thất bại lớn nhất của ông là tin rằng mình đã biết trọn vẹn ý chí của Đức Chúa Trời, dù đã biết lời tiên tri cho Rê-bê-ca, ông vẫn tin rằng Ê-sau mới là đứa con được hưởng phước lành

3.4. Gia-cốp

  • Có thể chúng ta không thích Gia-cốp nhưng ông vẫn được xem là con người đức tin. Ông biết và xem trọng những lời hứa của Chúa, nhưng ông dùng những cách bất kể tốt xấu để đạt được những điều ông tin là của mình chứ không đợi Chúa thực hiện lời hứa
  • Phải đợi đến lúc vật lộn với Đức Chúa Trời, ông mới học biết rằng Ngài có những phương cách để hoàn thành lời hứa

3.5. Giô-sép

  • Giô-sép là lời chứng cho Rô-ma 8:28 “Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời”
  • Một trong những khía cạnh quan trọng của đức tin là sẵn sàng nhìn thấy ý chí của Đức Chúa Trời trong những cơ hội Ngài đưa đến cho chúng ta
  • Giô-sép đợi đến thời điểm Chúa chọn cho sự sum họp của gia đình
  • Ông có đủ phú quý, vinh hoa, quyền thế nhưng ông không thay lòng đổi dạ. Ông không xem Ai Cập là quê hương nhưng nhận biết mình là công cụ để Đức Chúa Trời thực hiện kế hoạch của Ngài

CHƯƠNG 4: CHUYỆN TÍCH CỨU CHUỘC

4.1. Đức Chúa Trời hành động

  • Nguyên tắc thứ nhất: sự chọn lọc. Đức Thánh Linh đã chọn lọc những chi tiết bày tỏ rõ hơn hết việc Đức Chúa Trời làm để đem sự cứu rỗi đến cho con người và cách con người phản ứng đối với sự cứu rỗi đó
  • Nguyên tắc thứ hai: Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính mình Ngài trong lời nói và hành động qua những người được Ngài lựa chọn và sửa soạn
  • Nguyên tắc thứ ba: Đức Chúa Trời không chỉ là Đấng Sáng tạo mà còn là Đấng duy trì thế giới

4.2. Hệ thống biểu tượng của lịch sử cứu chuộc

  • Khi Đức Chúa Trời hành động, Ngài không phụ thuộc vào hoàn cảnh hay con người, vì Ngài có thể dấy lên một Môi-se vào một thời khác. Vì vậy, toàn bộ câu chuyện có thể dùng làm biểu tượng vì bản chất câu chuyện không liên hệ đến những biến cố thời gian và không gian
  • Điều này không áp dụng cho sự thành nghiệm của biểu tượng. Khảo cổ học đã chứng tỏ, những tính toán định ngày tháng quan trọng nào đó trong lịch sử loài người là vô giá trị; nhưng khi đến sự kiện căn bản của sự cứu chuộc, chúng ta được phép đặt nó một cách chính xác vào khoảng nào trong lịch sử nhân loại
  • Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trên quy luật cũng như sự vô quy luật

4.3. Sự thất bại của Y-sơ-ra-ên

  • Xuất Ai Cập mở màn cho một giai đoạn mới được xác nhận bằng giao ước ở Si-nai nhưng đại khối quần chúng vẫn tiếp tục sống trong quá khứ, mơ về Ai Cập
  • Cùng với việc sống trong quá khứ, người ta cũng không sẵn sàng sống cho hiện tại mới mẻ. Chúng ta cũng thường hay hành động như họ

4.4. Ơn Giao ước

  • Đức Chúa Trời tuyên bố hành động ân huệ của Ngài rồi đề nghị dành cho một địa vị đặc quyền, một đề nghị vượt xa mọi lời hứa với các tổ phụ. Trong giao ước không có điều khoản nào vì họ phải lấy đức tin đơn thuần mà nhận đặc tính ân huệ của Đấng lập giao ước
  • Trong Xuất 19:5, bên cạnh lời xác nhận Ngài đã chọn Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp, Đức Chúa Trời cũng tuyên bố rằng cả trái đất thuộc về Ngài

CHƯƠNG 5: LUẬT PHÁP

5.1. Luật pháp căn bản

  • Mười điều răn chiếm vị trí đặc biệt trong việc bày tỏ ý chỉ Đức Chúa Trời
  • Nếu chúng ta hiểu đúng Mười điều răn (Xuất 20) và Sách giao ước (Xuất 24:7), trong đó chứa đựng tất cả những gì Ngài đòi hỏi nơi dân Ngài. Mười điều răn chứa đựng những nguyên tắc căn bản mà tâm tính cần có nếu muốn tương giao với Chúa, phần còn lại bình luận và chỉ dẫn cách để tạo nên tâm tính đó

5.2. Các bộ luật khác

  • Khi so sánh bộ sách Giao Ước, Luật Thánh khiết và Luật Phục truyền:
    • Sách Giao ước phần lớn là luật thuần túy
    • Luật Thánh khiết không còn là luật pháp thuần túy mà là một phản ảnh sự thánh khiết của Đức Chúa Trời trong dân Ngài
    • Luật Phục truyền gần giống như bài giảng thực tế cho những ai đã có kinh nghiệm sâu xa với Chúa
  • Luật Dân vụ và Luật Thiên vụ:
    • Luật Dân vụ đưa ra một hành động do một động lực hay trong hoàn cảnh nào đó rồi đưa ra trừng phạt tương ứng
    • Luật Thiên vụ dành cho dân Y-sơ-ra-ên và bắt nguồn từ mối quan hệ giữa họ với Chúa, có những đòi hỏi mang tính tuyệt đối
  • Luật Nghi lễ: được ban bố sau khi đã thiết lập giao ước, dùng để duy trì giao ước sau khi giao ước được thiết lập. Những ai đã từng kinh nghiệm hiện thực đằng sau các nghi thức thể chế sẽ thấy mình đang sống như Chúa đã sống. Họ sẽ giữ nguyên tắc căn bản của luật pháp, không phải vì họ cảm thấy bị bắt buộc mà là vì sự sống của Chúa Cơ đốc từ trong họ phát huy ra

CHƯƠNG 6: CÁC SÁCH TIÊN TRI TRƯỚC

(Giô-suê, Các quan xét, Sa-mu-ên, Các Vua)

6.1. Sự suy vi của Y-sơ-ra-ên

  • Sau khi Giô-suê và những người đồng thời qua đời, lịch sử dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu xuống dốc cho đến khi không thể cứu chữa và họ phải bị lưu đày
  • Đức Chúa Trời đã dấy lên những nhân vật để chặn đứng sự ruỗng nát, nhưng họ rất ít khi nâng được mức sống và trình độ tôn giáo của toàn dân lên
  • Đến thời kỳ, Đức Chúa Trời cũng phải loại bỏ những gì đã tỏ ra không thể sửa chữa được nữa

6.2. Giô-suê

  • Sách Giô-suê thường bị hiểu lầm là lịch sử cuộc chinh phục xứ Ca-na-an. Thật ra, mười hai chương đầu cốt ghi lại những công việc quyền năng của Đức Chúa Trời trong thời kỳ chinh phục
  • Có hai câu chuyện về tội lỗi:
    • Một tội của A-can khiến toàn dân bị rủa sả vì cả trại đều dính líu đến vật cấm
    • Tội thứ hai là thỏa hiệp với dân Ga-ba-ôn, đây là tội lỗi bậc nhất của dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ Các quan xét
  • Những phần đất mà dân sự chưa chiếm được là một lời chứng thường trực lên án tội lỗi và sự thiếu kém đức tin của họ

6.3. Các quan xét

  • Các quan xét mở đầu bằng một bảng liệt kê những thất bại trong thời kỳ chinh phục, cho thấy thái độ thật sự của dân sự
  • Đối với họ, Đức Giê-hô-va là một vị thần trong nhiều vị thần. Họ làm điều mà chúng ta vẫn thường làm: chúng ta cảm thấy bị lôi kéo thỏa hiệp và cúi đầu trước các thần tượng của thế gian, của cải, quyền lực, dư luận và danh vọng

6.4. Sa-mu-ên

  • Nhà trước thuật sách Sa-mu-ên chia quyển sách thành nhiều phần: về Sa-mu-ên, chế độ quân chủ, về Sau-lơ, về Đa-vít làm vua, về con người Đa-vít và một phụ lục
  • Trong sách về Sa-mu-ên, chúng ta thấy tôn giáo bại hoại đã ăn sâu vào trung tâm Y-sơ-ra-ên, là những hành vi đồi bại về nhục dục
  • Dân chúng đòi cho được một vua và Sau-lơ có tất cả bề ngoài cần thiết để làm một vị vua lý tưởng, nhưng Kinh Thánh coi thường ông, chỉ dành hai chương để nói về cuộc trị vì của ông
  • Câu chuyện Đa-vít với hình ảnh vị vua thành công cũng như hình ảnh bi đát về con người nơi ông cho ta bài học rằng không có người nào đủ sức đại diện Đức Chúa Trời như cách dân Y-sơ-ra-ên kỳ vọng

6.5. Các Vua

  • Sách Các Vua chạy suốt từ triều đình hào nhoáng lộng lẫy của Sa-lô-môn đến lúc phóng thích vua Giê-hô-gia-kin khỏi ngục tù Ba-by-lôn
  • Nhân vật chính trong Các Vua không phải là những vị vua trung thành, nhưng là những phát ngôn viên của Đức Chúa Trời, các vị tiên tri
  • Không có cuộc cải cách thật sự nào mà chỉ là những cố gắng ngắn ngủi đắp đê ngăn chặn điều ác, nhưng một khi đê vỡ, nó còn làm cho sự hủy diệt cuối cùng đến chắc chắn hơn

CHƯƠNG 7: CÁC SÁCH TIÊN TRI SAU

(Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Sách mười hai gồm lời tiên tri của mười hai vị trong một cuốn duy nhất)

7.1. Ngày của Chúa

  • Giô-ên là vị tiên tri duy nhất mà chúng ta không thể định niên đại một cách chắc chắn. Sứ điệp của ông có tính cách phi thời gian, ông nói về Ngày của Chúa, từ này trong Cựu Ước tương đương với từ Ngày Chúa tái lâm trong Tân Ước

7.2. Tình yêu của Đức Chúa Trời

  • Lời tiên tri của Giô-na về thành Ni-ni-ve có thể đặt vào khoảng chưa đầy 40 năm sau khi Ê-li-sê qua đời và A-mốt nói tiên tri
  • Trong sách này, chúng ta thấy Ngài chẳng những tìm kiếm sự ăn năn của thành phố tội ác Ni-ni-ve mà còn tỏ ra thương xót “mười hai vạn người không phân biệt tay hữu và tay tả” (có lẽ là trẻ em) “với một số thú vật rất nhiều”

7.3. Các vị tiên tri của thế ký thứ tám

  • Các lời tiên tri của A-mốt, Ô-sê, Ê-sai 1:1-39:8 và Mi-chê thường được gộp dưới đại đề chung là các vị tiên tri của thế kỷ thứ tám (riêng về Ê-sai 40:1-66:24 có sứ điệp nổi bật nên cần được xét dưới một khung cảnh khác)
  • Sứ điệp của các vị tiên tri này, bất luận họ nói với miền bắc Y-sơ-ra-ên hay miền nam Giu-đa, đều có tính cách biện minh cho sự phán xét hầu đến
  • Đối với A-mốt, đức tính căn bản của Đức Chúa Trời là công bình. Sự công bình này tỏ trong sự trừng phạt những kẻ phạm tội đi ngược lại lương tâm mình, dù họ không là thành phần của dân giao ước
  • Ô-sê quan tâm nhiều hơn đến những hành vi của dân sự dưới ánh sáng của tình yêu Đức Chúa Trời. Ông nhìn thấy cái giá Đức Chúa Trời phải chịu khi lên án dân Ngài, đồng thời ông cũng thấy rằng việc một dân tộc không yêu mến Chúa nhưng lại làm dân Ngài với mọi đặc quyền là một mâu thuẫn
  • Ê-sai đã kết hợp sự yêu thương và công bình với nhau trong thị tượng về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Ông nhận biết rằng dòng giống thể xác không thể làm nên dân Chúa, muốn mang tước vị ấy cách xứng đáng thì phải có hạt giống thánh bên trong
    • Ê-sai thấy trước cả hai dân tộc và vua quan đều sẽ bị đốn ngã, và từ trong số dân sót sẽ xuất hiện một vị vua mang mọi đặc tính mà Đa-vít và những người kế vị ông không thể nào sánh được
    • Sự khác biệt giữa Ê-sai và Ê-li: đối với Ê-li, nhân dân thất bại làm cho chương trình của Đức Chúa Trời thất bại (IVua 19:14), còn đối với Ê-sai, sự thất bại hiển nhiên của người Y-sơ-ra-ên đồng thời với ông đã khiến cho các mục đích của Đức Chúa Trời được thành tựu trọn vẹn
  • Mi-chê là một trong bốn vị tiên tri ít ảnh hưởng đến độc giả trung bình lúc ban đầu, nhưng là người duy nhất trong số đó được ghi lại bằng sứ điệp của ông đã đem lại một cuộc cải cách, tuy ngắn ngủi. Giọng văn của ông mạnh bạo và đã thúc đẩy vua Ê-xê-chia hành động

7.4. Thời kỳ Giô-si-a

  • Không thấy nói đến một vị tiên tri nào trong khoảng thời gian 50 năm Ma-na-se trị vì. Lời truyền khẩu rằng Ê-sai bị Ma-na-se giết có thể là đúng. Nhưng các vị tiên tri của thế kỷ thứ tám đã làm phận sự rất tốt đẹp. Chắc chắn ý muốn của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tồn tại. Nếu Ma-na-se không nghe lời họ, chắc ông cũng không nghe một vị tiên tri mới, bởi vậy không một ai được sai đến với ông
  • Sô-phô-ni là người tiên phong cho thời đại mới. Những lời mô tả trong Sô-phô-ni 1 nói rõ thời gian trước cuộc cải cách của Giô-si-a nên ta có thể tin rằng vị tiên tri là người đã thúc đẩy nhà vua trẻ ra tay cải cách
  • Na-hum giữ vị trí bổ túc cho Giô-na, khi Giô-na bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời trong sự nhẫn nhục tìm kiếm sự ăn năn và giải cứu cho thành Ni-ni-ve, Na-hum cho thấy hậu quả của sự khinh lờn tình yêu ấy
  • Ha-ba-cúc dường như đã ghi lại những lời đối thoại giữa Đức Chúa Trời và ông trải qua nhiều năm. Đóng góp lớn nhất của ông vào chân lý được mặc khải mỗi ngày một rộng lớn hơn, là câu “Người công chính sẽ sống nhờ lòng trung thành của mình” (Ha 2:4). Ông được mặc khải rằng giữa số phận bấp bênh của những người dân sót, cá nhân vẫn được an toàn nhờ một cuộc sống hết lòng tin cậy Đức Chúa Trời

7.5. Giê-rê-mi

  • Đức Chúa Trời đưa ra minh chứng qua Giê-rê-mi rằng bởi ân điển, con người có thể sống đời tin cậy dù mọi sự giúp đỡ và duy trì bên ngoài đều không còn
  • Trong năm năm đầu đời trị vì của Giê-hô-gia-kim, chúng ta thấy Giê-rê-mi chịu hết hoạn nạn này đến hoạn nạn khác. Ông kinh nghiệm phước lành và năng lực trong khi chứng minh rằng con người vẫn có thể bước đi theo đường lối của Đức Chúa Trời dù bị tước đoạt hết mọi sự hỗ trợ của loài người

7.6. Ê-xê-chi-ên

  • Giê-rê-mi nói tiên tri cho những kẻ sẽ đi đày, Ê-xê-chi-ên nói cho những kẻ đã ở đó. Công tác của ông là thuyết phục họ rằng họ ở trong nơi lưu đày là do hành động ân sủng của Đức Chúa Trời. Đó không phải hình phạt thảm khốc mà là phương cách Ngài cứu họ khỏi tai ương sắp đổ xuống Giê-ru-sa-lem
  • Giê-rê-mi làm sáng tỏ điểm con người không thể đi đến chỗ ăn năn, còn Ê-xê-chi-ên vạch ra thứ tự bội đạo, phán xét, phục hồi và ăn năn, nhưng bước cuối cùng chỉ hoàn toàn dựa vào hành động ân huệ của Chúa

7.7. Đầy tớ Đức Giê-hô-va

  • Ở đây xét riêng sứ điệp của các chương sau sách Ê-sai
  • Trong chương 40-48, chúng ta có hình ảnh của Đức Giê-hô-va sắp sửa thực hiện một cuộc xuất hành mới. Cuối phần này cho thấy Y-sơ-ra-ên được thoát khỏi ách đô hộ Ba-by-lôn nhưng không thoát khỏi ách tội lỗi. Chương 49-55 nói về Y-sơ-ra-ên có thể được giải thoát khỏi tội lỗi như thế nào. Như thế chúng ta được đưa đến với vị đầy tớ thật

7.8. Các vị tiên tri sau thời lưu đày

  • Sau khi lưu đày trở về, chức vụ tiên tri chóng bị phai mờ. Đức Chúa Trời không còn gì để mặc khải cho đến khi Đấng hoàn thành lời tiên tri phải đến. Lời tiên tri của ba vị A-ghê, Xa-cha-ri, Ma-la-chi bắc một nhịp cầu giữa những lời tiên tri và bài giảng
  • A-ghê đã dựa vào mặc khải của quá khứ để đem luận lý Đức Thánh Linh đã dạy mà áp dụng cho hoàn cảnh lúc bấy giờ
  • Sáu chương đầu của Xa-cha-ri cho thấy loại tiên tri khải huyền, đặc biệt liên kết với sách Đa-ni-ên và Khải thị. Lời tiên tri đó khải minh bản tánh của Đức Chúa Trời ở mức độ cần thiết hay có thể thấu triệt được cho đến khi Đấng khải minh toàn hảo hiện đến
  • Sứ điệp của Ma-la-chi gần như là một loạt bài giảng ngắn trong Cựu Ước

CHƯƠNG 8: NHÀ THI VỊNH

8.1. Sự tể trị trên cá nhân

  • Nhiều Thi thiên, nhất là những thi vịnh của Đa-vít xuất phát từ những hoàn cảnh hoạn nạn thiếu thốn của cá nhân, những cách thức diễn tả những đau khổ đó đã được Đức Thánh Linh tể trị
  • Một bản thánh ca chỉ thật sự vĩ đại khi nào kinh nghiệm cá nhân đằng sau nó phải được tổng quát hóa để cho đa số những người thờ phượng đều có thể hát lên với cảm xúc chân thành

8.2. Hai loại thi vịnh chính

  • Những thi vịnh của người Đức Chúa Trời do Thi 1 đại diện. Chúng ta thấy ông qua những nỗi buồn và niềm vui, những thất bại và chiến thắng, những sợ hãi và khải hoàn
  • Những Thi thiên của vị vua của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, vị vua thời Cựu Ước không phải là “thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc” đủ chứng tỏ rằng đây là lời tiên tri về vị vua chưa đến

8.3. Quy định tác giả

  • Ngày nay nói chung, người ta tin rằng nguyên thủy có ba sách, là Thi 1-41, 42-89 và 90-150. Nếu điều đó đúng thì ta có thể phỏng đoán không sai mấy là chúng có ba nhóm: của Đa-vít, của người Lê-vi và khuyết danh. Dĩ nhiên trong cả ba nhóm đều có Thi vịnh của Đa-vít và khuyết danh
  • Các Thi thiên vô danh phần lớn là những thánh ca thờ phượng, trong đó ca tụng Đức Chúa Trời vì lòng nhơn lành của Ngài
  • Trong các Thi thiên của Đa-vít, ngoài hai Thi thiên cảm tạ 65 và 103, đều có một sợi chỉ xuyên suốt đó là kẻ thù của ông, cũng là của Đức Chúa Trời. Đa-vít nói đến những kẻ thừa hành của Sa-tan, ông biết chúng không phải là kẻ ác suông vì chúng phục vụ cho một lực lượng gian ác
  • Các Thi thiên của con cháu Cô-rê ắt là do nhiều tác giả trong nhiều thời kỳ khác nhau
  • Các Thi thiên A-sáp xuất phát từ một dòng họ Lê-vi ca xướng

CHƯƠNG 9: CÁC SÁCH KHÔN NGOAN

9.1. Sách Châm ngôn

  • Sự khôn ngoan mà con người thâu lượm được bằng cách học hỏi quá khứ và hiện tại ở Y-sơ-ra-ên cũng như Cận Đông cổ thường được diễn đạt bằng những câu ngắn gọn, hàm súc, có khi gồm hai câu điệp ý hay đối ý. Phần lớn sách Châm ngôn gồm những câu song đối như thế
  • Sưu tập Sa-lô-môn thứ nhất (10:1-22 16:1-33) gồm 375 câu cách ngôn, tương ứng với trị số của những chữ làm thành tên vua. Sưu tập Sa-lô-môn thứ hai (25:1-12, 27) hoàn thành không tham khảo tập trước, vì có một số cách ngôn lập lại trong tập này
  • Sách Châm ngôn kết thúc bằng ba đoạn ngắn, lời của A-gu-rơ (30:1-33), lời của Lê-mu-ên (31:1-9) và một bài thơ mô tả người vợ lý tưởng (31:10-31)

9.2. Sách Gióp

  • Sách Gióp được đặt vào Kinh Thánh để bổ túc cho những giáo huấn của Châm ngôn. Có những điều trên đời không thể giải thích bằng sự khôn ngoan của sách Châm ngôn, chính lúc đó sách Gióp đưa chúng ta đến với một Đức Chúa Trời hành động theo nguyên tắc, nhưng một nguyên tắc quá vĩ đại khiến chúng ta không thể nào hiểu hết được những hành động và động cơ của Ngài

9.3. Sách Truyền đạo

  • Đối với nhiều người, đây là cuốn sách bí mật của Cựu Ước, ngày nay trong số những học giả nghiên cứu sách này ít ai còn cho rằng Sa-lô-môn là tác giả
  • Ngôn ngữ của sách là một loại tiếng Hê-bơ-rơ xưa thường thấy trong các sách vở Ra-bi khoảng 200 năm TC và hoàn toàn khác với lối văn của sách Châm ngôn và các sách lịch sử từ thời quân chủ thống nhất
  • Bài học tác giả đưa ra trong cuộc tìm kiếm của ông: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài”

CHƯƠNG 10: BỘ NĂM CUỐN

Trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ, có nhóm sách nhỏ Megillot được đọc trong các giáo đường vào dịp lễ chính mỗi năm: Nhã Ca đọc trong Lễ Vượt qua, Ru-tơ trong Lễ Ngũ tuần, Ca Thương trong Lễ Kiêng ăn Tisha b’Ab, Truyền đạo trong Đại lễ chuộc tội và Ê-xơ-tê trong Lễ Purim

Sách Truyền Đạo bàn về tính cách hư không của sự khôn ngoan và nỗ lực của con người, đã được bàn ở chương 9 liên hệ đến cách sách khôn ngoan

10.1. Sách Nhã Ca

  • Câu mở đầu không nhất thiết ngụ ý Sa-lô-môn là tác giả mà chỉ xác nhận có một sự liên hệ giữa bài thơ và vua Sa-lô-môn
  • Các Ra-bi xưa thường giải thích sách này theo nghĩa hình bóng, hình bóng về tình yêu của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên dầu không thể dùng cách giải thích cố định trong tất cả các phần khác nhau
  • Tuy nhiên, có người cảm thấy lối giải hình bóng này không lột tả hết được sự sinh động và say đắm của lời thơ, vì vậy họ cho đó là một biểu tượng
  • Gần đây hơn, lối giải thích phổ thông nhất là cho rằng đó là một vở kịch, nhưng chưa ai chứng minh được ngày xưa dân Y-sơ-ra-ên có những tuồng kịch như vậy
  • Những giải thích hiện đại nhất cho rằng đó là một loạt bài thơ về hôn nhân. Ở đây ta có lời ca ngợi tình yêu hôn nhân chân thật, thuần khiết, nhưng không quên rằng nó rút sức mạnh và ý nghĩa từ một tình yêu sâu sắc và tinh khiết hơn mà nó dự tả

10.2. Sách Ru-tơ

  • Sách có một vị trí đặc biệt trong Kinh Thánh Hê-bơ-rơ vì vào mọi thời nó đảm bảo cho người dân ngoại bang tìm được một chỗ trong dân của Đức Chúa Trời
  • Đối với chúng ta cũng vậy, nó nói lên tính cách ngoại lệ cho những ai “đến ẩn náu dưới cánh của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên”

10.3. Sách Ca Thương

  • Quyển sách gồm có 5 phiên khúc hay ca thương viết trong những năm ngay sau khi đền thờ Giê-ru-sa-lem bị Nê-bu-cát-nết-sa hủy phá. Không có lý do vững chắc nào để gán cho tất cả cùng một tác giả
  • Trong nỗi đau buồn vì mất mát, (các) tác giả quên đi lời hứa về sự phục hồi. Đức Chúa Trời sẵn lòng chấp nhận cho con người dốc đổ nỗi sầu thảm đương khi họ vẫn tiếp tục tin cậy Ngài, vì vậy Ngài đã để cho nỗi buồn ấy có chỗ bộc lộ trong Kinh Thánh
  • Ca thương không đánh tan đám mây đau buồn, nhưng bảo đảm với người than khóc rằng Đức Chúa Trời thông cảm và chấp nhận nỗi đau của họ

10.4. Sách Ê-xơ-tê

  • Trong Kinh Thánh chúng ta thường thấy ghi lại những sự việc xảy ra mà không bình luận đúng hoặc sai, sách Ê-xơ-tê là một ví dụy
  • Điều chúng ta mong mỏi học biết được là Đức Chúa Trời vẫn giữ sự thành tín giao ước với dân Ngài dù cho đại diện của họ lắm khi tỏ ra bất xứng
  • Sách Ê-xơ-tê cũng có vai trò trong toàn bộ mặc khải của Đức Chúa Trời, bảo đảm sự vững chắc của lời hứa

CHƯƠNG 11: NHÌN VỀ TƯƠNG LAI

11.1. Sách Đa-ni-ên

  • Câu chuyện trong Đa-ni-ên không ghi lại để tôn vinh ông và các bạn nhưng để tỏ rằng không có một hoàn cảnh nào mà Đức Chúa Trời không thể bảo vệ kẻ thuộc về Ngài
  • Chỉ khi nào chúng ta hoàn toàn tin quyết nơi quyền tể trị tuyệt đối của Chúa, chúng ta mới có thể nhìn về tương lai cách ích lợi

11.2. Sách Sử ký

  • Các sách tiên tri trước từ Giô-suê đến Các Vua nhằm chứng tỏ lịch sử là một mặc khải của Đức Chúa Trời. Mục đích của người viết Sử ký khác, người viết muốn khích lệ dân Do Thái trong hoàn cảnh tuyệt vọng của họ. Một khi Ngài đã lập họ, họ nằm trong ý định của Ngài, không ai có quyền thay đổi họ nếu Đức Chúa Trời không thay đổi hay hủy bỏ họ
  • Sách cũng nhấn mạnh quyền năng Thánh Linh và sự tin cậy đơn sơ của con người